Rất nhiều địa danh Việt Nam được đặt bằng yếu tố Hán Việt, nên đọc được chừng hai mươi yếu tố hay gặp như Ninh, An, Bình, Hưng, Quảng, Giang, Sơn là hiểu được nghĩa từng chữ của phần lớn tên tỉnh, sông, núi. Nhưng nghĩa từng chữ không phải lúc nào cũng là lý do đặt tên.
Bài này đi theo hai chiều. Chiều thứ nhất là kỹ thuật: những yếu tố nào lặp lại, đọc tên các tỉnh, thành hiện nay ra sao. Chiều thứ hai là sự thận trọng: địa danh nào không phải Hán Việt, và vì sao không nên thêu dệt câu chuyện từ nghĩa chữ. Tên tỉnh, thành trong bài theo đơn vị hành chính hiện hành, sau đợt sắp xếp còn 34 tỉnh, thành.
Vì sao nhiều địa danh Việt là Hán Việt?
Trong nhiều thế kỷ, văn bản hành chính được viết bằng chữ Hán. Khi triều đình lập, đổi hay ghép các đơn vị hành chính, tên mới được chọn và ghi bằng chữ Hán, thường là hai chữ mang nghĩa tốt lành hoặc chỉ vị trí. Tên ấy đi vào sổ sách, bản đồ, sắc phong, rồi dần thành tên gọi chính thức.
Song song đó, người dân vẫn gọi làng, sông, núi bằng tên Nôm, tên thuần Việt, hoặc tên trong tiếng các dân tộc tại chỗ. Vì vậy cùng một vùng đất có thể có hai lớp tên: tên chữ trên giấy tờ và tên nôm trong lời nói. Ở nhiều làng, tên nôm như Kẻ Này, Kẻ Kia vẫn được người già nhắc dù tên chữ đã đổi nhiều lần.
Bảng yếu tố Hán Việt hay gặp trong địa danh
Những yếu tố dưới đây chiếm phần lớn tên tỉnh, thành, xã, phường, sông, núi được đặt bằng chữ.
| Yếu tố | Chữ Hán | Nghĩa | Gặp trong |
|---|---|---|---|
| Sơn | 山 | núi | Lạng Sơn, nhiều tên núi, tên xã |
| Hà | 河 | sông | Hà Nội, Hà Tĩnh |
| Giang | 江 | sông lớn | An Giang, tên nhiều dòng sông |
| Hải | 海 | biển | Hải Phòng |
| Ninh | 寧 | yên ổn | Ninh Bình, Quảng Ninh, Bắc Ninh, Tây Ninh |
| An / Yên | 安 | yên, an | Nghệ An, Hưng Yên |
| Bình / Bằng | 平 | bằng phẳng, yên bình | Ninh Bình, Cao Bằng |
| Hưng | 興 | dấy lên, thịnh | Hưng Yên |
| Quảng | 廣 | rộng | Quảng Ninh, Quảng Trị, Quảng Ngãi |
| Long | 隆 / 龍 | thịnh / rồng | Vĩnh Long dùng chữ 隆 |
| Phú | 富 | giàu | Phú Thọ |
| Thọ | 壽 | sống lâu | Phú Thọ |
| Khánh | 慶 | mừng | Khánh Hoà |
| Nguyên | 原 | đồng bằng, vùng đất rộng | Thái Nguyên |
| Đông, Tây, Nam, Bắc | 東 西 南 北 | phương hướng | Tây Ninh, Bắc Ninh |
Để ý hai cặp An và Yên, Bình và Bằng: mỗi cặp là cùng một chữ Hán đọc theo hai cách. “Hưng Yên” và “Nghệ An” đều có chữ 安; “Cao Bằng” và “Ninh Bình” đều có chữ 平.
Đọc thử tên một số tỉnh, thành hiện nay
Tên hai chữ đều nghĩa tốt lành
Khánh Hoà (慶和) là mừng và hoà thuận. Phú Thọ (富壽) là giàu và sống lâu. Vĩnh Long (永隆) là lâu dài và thịnh vượng. Kiểu đặt tên này phổ biến: hai chữ cùng mang ý chúc lành, không gắn với đặc điểm địa lý nào.
Tên chỉ vị trí hoặc địa hình
Hà Nội (河內) thường được giải thích là phía trong sông, ứng với vùng đất được các dòng sông bao quanh. Hải Phòng (海防) là giữ mặt biển. Tây Ninh (西寧) là phía tây được yên ổn. Lạng Sơn (諒山) có yếu tố núi. Những tên này cho biết người đặt nhìn vùng đất từ đâu.
Tên có yếu tố đọc theo âm cũ
Quảng Ngãi viết chữ 廣義; “Ngãi” là cách đọc cũ của chữ 義 mà ngày nay ta đọc là “nghĩa”. Cao Bằng viết chữ 高平, “Bằng” ứng với “Bình”. Gặp tên đất có âm lạ, hãy nghĩ tới khả năng đó là cách đọc cũ hoặc đọc kiêng của một chữ quen.
Sông có hai tên: tên nôm và tên chữ
Nhiều dòng sông lớn có một tên quen miệng và một tên chữ dùng trong thơ văn. Sông Hương có tên chữ Hương Giang (香江), sông Lam là Lam Giang (藍江), sông Hồng đoạn chảy qua Hà Nội từng được gọi trong văn chương là Nhị Hà (珥河). Trong tên chữ, yếu tố chỉ sông đứng sau, yếu tố phân biệt đứng trước, đúng trật tự Hán. Khi đọc thơ cổ, gặp một chữ “Giang” hay “Hà” đi kèm một chữ lạ, rất có thể đó là tên chữ của một dòng sông quen mà bạn chỉ biết bằng tên nôm. Ghi lại cả hai tên giúp bạn nhận ra dòng sông ấy khi nó xuất hiện trong tư liệu cũ.
Địa danh không phải Hán Việt
Tên trong tiếng các dân tộc tại chỗ. Đắk Lắk, Gia Lai và nhiều tên ở Tây Nguyên, miền núi phía Bắc là phiên âm từ tiếng các dân tộc. Đi tìm chữ Hán cho những tên này là đi sai hướng.
Tên gốc Khmer, Chăm. Ở Nam Bộ và miền Trung có những tên thường được giải thích là phiên từ tiếng Khmer hoặc tiếng Chăm, như cách giải thích phổ biến về tên Cà Mau. Nguồn gốc nhiều tên còn được bàn, nên trình bày thận trọng.
Tên Nôm của làng, chợ, bến. Những tên như Kẻ Chợ, xóm Mới, đồng Bãi là thuần Việt. Có nơi được đặt thêm tên chữ, nhưng tên nôm vẫn sống trong lời người dân.
Tên còn tranh luận. Nguồn gốc tên Huế, tên Đà Nẵng có nhiều cách giải thích. Với những tên như vậy, chỉ nên nêu các giả thuyết và nói rõ đó là giả thuyết.
Đừng suy diễn câu chuyện từ nghĩa chữ
Nghĩa từng chữ trong tên đất là có thật, nhưng lý do đặt tên lại là chuyện khác. Một tên có thể được ghép từ chữ đầu của hai đơn vị cũ khi sáp nhập. Một tên có thể đổi chữ vì kiêng tên húy. Một tên đơn giản là được chọn vì hai chữ nghe tốt lành. Không có tài liệu, mọi câu chuyện về “vì sao vùng này tên như vậy” chỉ là suy đoán.
Lỗi hay gặp nhất là dựng một giai thoại từ nghĩa chữ rồi kể như sự thật: tên có chữ Long thì gắn với chuyện rồng, tên có chữ Hà thì gắn với một dòng sông cụ thể. Trong khi chữ Long có khi là 隆 (thịnh), chẳng liên quan gì tới rồng; còn chữ Hà có thể chỉ chung một vùng sông nước.
Đợt sắp xếp đơn vị hành chính gần đây đặt nhiều tên mới cho xã, phường; có nơi giữ một tên cũ, có nơi ghép tên. Với những tên này, căn cứ đúng là văn bản quyết định của cơ quan nhà nước, không phải nghĩa chữ.
Tra nghĩa tên làng, sông, núi quanh nhà
Nếu bạn muốn biết tên quê mình nghĩa là gì, hãy đi theo trình tự từ tư liệu tới suy luận:
- Tìm tên chữ trên tư liệu tại chỗ: bia đình, câu đối, sắc phong, địa bạ còn lưu ở làng. Một dòng chữ Hán ghi tên làng là căn cứ chắc nhất.
- Hỏi những người lớn tuổi về tên nôm và các tên cũ của làng. Ghi lại nguyên văn, kể cả khi họ không biết nghĩa.
- Đối chiếu tên chữ với bảng yếu tố ở trên để hiểu nghĩa từng chữ.
- Tìm văn bản quyết định thành lập, đổi tên, sáp nhập đơn vị hành chính để biết lý do đặt tên, nếu có ghi.
- Khi viết lại, tách rõ ba lớp: nghĩa chữ (chắc chắn), lịch sử đổi tên (theo văn bản), và giai thoại dân gian (ghi là truyền miệng).
Việc không cần làm: không cần cố tìm một ý nghĩa sâu xa cho mọi tên đất. Nhiều tên chỉ có nghĩa chúc lành giản dị, và điều đó tự nó đã đủ nói lên mong ước của người xưa.
Câu hỏi thường gặp
Vì sao nhiều tỉnh có chữ Ninh, Bình, An?
Vì đây là những chữ mang nghĩa yên ổn, bằng phẳng, an lành. Khi đặt tên đơn vị hành chính bằng chữ Hán, người xưa ưa chọn những chữ chúc cho vùng đất được yên ổn.
Hưng Yên và Nghệ An có chữ chung không?
Có. “Yên” và “An” đều là chữ 安. Đây là hai cách đọc của cùng một chữ trong tiếng Việt, giống trường hợp “Bình” và “Bằng” đều là chữ 平.
Ngãi trong Quảng Ngãi nghĩa là gì?
Quảng Ngãi viết chữ 廣義. “Ngãi” là cách đọc cũ của chữ 義, ngày nay đọc là “nghĩa”. Tên có thể hiểu theo từng chữ là rộng và nghĩa.
Tên tỉnh nào không phải Hán Việt?
Những tên như Đắk Lắk, Gia Lai bắt nguồn từ tiếng các dân tộc tại chỗ. Một số tên ở Nam Bộ thường được giải thích là có gốc Khmer. Không nên tìm chữ Hán cho những tên này.
Làm sao biết tên chữ của làng mình?
Tìm trên bia đình, câu đối, sắc phong, địa bạ còn lưu ở làng, rồi hỏi người lớn tuổi về tên nôm. Tên chữ ghi trên tư liệu gốc là căn cứ chắc chắn nhất.