Thơ Nôm Đường luật là thơ viết bằng tiếng Việt theo khuôn thơ Đường: thường tám câu bảy chữ, một vần bằng, câu ba bốn đối nhau, câu năm sáu đối nhau, các câu dính nhau bằng niêm. Muốn nhận luật, bạn chỉ cần xem thanh của chữ thứ hai, thứ tư, thứ sáu mỗi câu.
Luật thơ Đường thường được dạy như một bảng ký hiệu khô khan, nên nhiều người học xong vẫn không áp được vào bài thơ cụ thể. Cách nhanh nhất là lấy một bài quen, đặt cạnh từng điều luật và kiểm tra. Bài Qua Đèo Ngang của Bà Huyện Thanh Quan rất hợp cho việc này: luật chuẩn, đối chỉnh, lại dễ thuộc.
Bài thơ mẫu và cách chia bốn cặp
Bài thơ: Bước tới Đèo Ngang bóng xế tà, / Cỏ cây chen đá lá chen hoa. / Lom khom dưới núi tiều vài chú, / Lác đác bên sông chợ mấy nhà. / Nhớ nước đau lòng con quốc quốc, / Thương nhà mỏi miệng cái gia gia. / Dừng chân đứng lại trời non nước, / Một mảnh tình riêng ta với ta.
Thơ thất ngôn bát cú chia bốn cặp: đề (câu một, hai) mở ra cảnh và tình; thực (câu ba, bốn) tả cụ thể; luận (câu năm, sáu) bàn, bày tỏ; kết (câu bảy, tám) khép lại. Đây là cách chia quen thuộc trong nhà trường. Có người đề nghị cách chia khác cho một số bài, nhưng với người mới, bốn cặp là đủ để định hướng.
Luật bằng trắc: kiểm tra chữ thứ hai, tư, sáu
Câu khẩu quyết quen thuộc là nhất tam ngũ bất luận, nhị tứ lục phân minh: chữ thứ một, ba, năm không bắt buộc, chữ thứ hai, tư, sáu phải đúng luật. Bảng dưới ghi thanh ba vị trí đó trong bài mẫu (B là bằng, T là trắc).
| Câu | Chữ 2 | Chữ 4 | Chữ 6 | Mẫu |
|---|---|---|---|---|
| 1 | tới (T) | Ngang (B) | xế (T) | T B T |
| 2 | cây (B) | đá (T) | chen (B) | B T B |
| 3 | khom (B) | núi (T) | vài (B) | B T B |
| 4 | đác (T) | sông (B) | mấy (T) | T B T |
| 5 | nước (T) | lòng (B) | quốc (T) | T B T |
| 6 | nhà (B) | miệng (T) | gia (B) | B T B |
| 7 | chân (B) | lại (T) | non (B) | B T B |
| 8 | mảnh (T) | riêng (B) | với (T) | T B T |
Chữ thứ hai của câu một là tới, thanh trắc, nên bài làm theo luật trắc. Trong mỗi câu, chữ hai và chữ sáu cùng thanh, chữ tư ngược lại. Đây là điều bạn kiểm được trong một phút với bất kỳ bài thất ngôn nào.
Niêm là gì và kiểm thế nào?
Niêm là dính
Niêm là sự dính nhau về thanh giữa hai câu: chữ thứ hai của hai câu niêm với nhau phải cùng thanh. Trong bát cú, các cặp niêm là câu một với câu tám, câu hai với câu ba, câu bốn với câu năm, câu sáu với câu bảy.
Thử trên bài mẫu
Câu một tới (trắc) và câu tám mảnh (trắc): đúng niêm. Câu hai cây và câu ba khom: cùng bằng. Câu bốn đác và câu năm nước: cùng trắc. Câu sáu nhà và câu bảy chân: cùng bằng. Cả bài không sai niêm chỗ nào.
Vì sao cần niêm
Niêm làm cho bài thơ có nhịp luân phiên đều đặn giữa các cặp câu, đọc lên không bị lặp tiếng hay hẫng tiếng. Thất niêm, tức sai niêm, là lỗi bị coi nặng trong thơ luật xưa.
Vần và phép đối nằm ở đâu?
Vần. Bài thơ gieo một vần bằng ở cuối các câu một, hai, bốn, sáu, tám: tà, hoa, nhà, gia, ta. Các câu ba, năm, bảy kết bằng thanh trắc và không mang vần.
Đối ở thực. Lom khom dưới núi tiều vài chú đối Lác đác bên sông chợ mấy nhà: từ láy đối từ láy, dưới núi đối bên sông, tiều đối chợ, vài chú đối mấy nhà. Hai câu vẽ con người nhỏ bé, thưa thớt giữa cảnh rộng.
Đối ở luận. Nhớ nước đau lòng con quốc quốc đối Thương nhà mỏi miệng cái gia gia: nhớ nước đối thương nhà, đau lòng đối mỏi miệng, tiếng chim quốc đối tiếng chim đa đa. Lối chơi chữ đồng âm quốc là nước, gia là nhà làm cặp đối vừa chỉnh vừa sâu.
Đề và kết không bắt buộc đối. Câu một, hai và câu bảy, tám thường không đối. Người viết dùng hai cặp này để dẫn vào và khép lại, tự do hơn về cấu trúc.
Kiểm luật xong, đọc lại bài thơ ra sao?
Luật giúp bạn thấy bài thơ được dựng thế nào; nó chưa nói bài thơ hay ở đâu. Đặt lại tám câu cạnh nhau, bạn thấy một đường đi rõ: cặp đề là cảnh chiều tà, cây cỏ chen chúc mà không có bóng người; cặp thực có người nhưng nhỏ, thưa, ở xa; cặp luận chuyển hẳn vào tiếng chim và nỗi nhớ; cặp kết đặt một con người đứng giữa trời non nước mênh mông chỉ còn đối diện với chính mình.
Lúc này các chi tiết luật bỗng có nghĩa. Phép đối ở thực làm cảnh vật cân xứng mà vắng lặng. Phép đối ở luận, với cặp chữ quốc và gia, làm nỗi nhớ nước và thương nhà đi song song như hai tiếng chim gọi nhau. Câu kết không đối, phá khuôn một chút, đúng lúc cảm xúc cần thoát ra. Đọc như thế, bạn hiểu vì sao người xưa coi trọng luật: luật không để bó, mà để từng chữ được đặt vào đúng chỗ của nó.
Thơ Nôm Đường luật có gì khác thơ Đường chữ Hán?
Ngay từ tập Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi, thơ Nôm đã mượn khuôn Đường luật nhưng không theo nó hoàn toàn. Một nét được giới nghiên cứu nhắc nhiều là những câu sáu chữ xen trong bài thất ngôn, điều mà thơ Đường chuẩn không có. Đó là dấu vết của người Việt thử đưa nhịp tiếng mình vào khuôn của người khác.
Về sau, thơ Nôm Đường luật đi theo nhiều hướng. Bà Huyện Thanh Quan giữ luật nghiêm, lời trang nhã, nhiều từ Hán Việt. Thơ truyền tụng mang tên Hồ Xuân Hương dùng chính khuôn chặt ấy để chứa tiếng nói thuần Việt, từ láy, thành ngữ, và nhiều lớp nghĩa. Nguyễn Khuyến và Tú Xương lại đưa vào đó cảnh làng quê và đời sống thị thành.
Lưu ý về văn bản: nhiều bài thơ Nôm được truyền tụng mang tên Hồ Xuân Hương, nhưng giới nghiên cứu không coi tất cả đều chắc chắn của bà. Khi phân tích một bài, nên dùng tuyển tập có khảo cứu và ghi rõ nguồn.
Thử áp luật vào một bài tứ tuyệt
Bài Bánh trôi nước quen thuộc: Thân em vừa trắng lại vừa tròn, / Bảy nổi ba chìm với nước non. / Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn, / Mà em vẫn giữ tấm lòng son. Đây là thể thất ngôn tứ tuyệt, bốn câu bảy chữ.
Kiểm chữ thứ hai: em (bằng), nổi (trắc), nát (trắc), em (bằng). Câu hai và câu ba cùng trắc, đúng niêm. Vần ở tròn, non, son. Bạn vừa tự kiểm luật một bài thơ mà không cần thuộc bảng ký hiệu nào.
Lỗi hay gặp khi học luật thơ
Những lỗi dưới đây gặp ở cả học sinh và người lớn mới tập làm thơ luật.
- Đếm cả chữ một, ba, năm rồi kết luận bài sai luật; nhớ rằng ba vị trí đó được tự do.
- Nhầm thanh huyền là thanh trắc; huyền và ngang là bằng, còn sắc, hỏi, ngã, nặng là trắc.
- Quên rằng câu một có thể gieo vần hoặc không; một số bài không vần ở câu một vẫn đúng luật.
- Chỉ nhìn đối về nghĩa, bỏ qua đối về loại từ và về thanh.
- Học luật xong thì bỏ cảm xúc; luật chỉ là khung, hãy quay lại đọc bài thơ như một bài thơ.
Câu hỏi thường gặp
Nhất tam ngũ bất luận nghĩa là gì?
Câu này nghĩa là chữ thứ nhất, thứ ba, thứ năm trong câu thơ luật không bắt buộc phải theo bằng trắc; còn chữ thứ hai, tư, sáu thì phải đúng luật.
Làm sao biết bài thơ theo luật bằng hay luật trắc?
Nhìn thanh của chữ thứ hai trong câu đầu. Nếu chữ đó là thanh bằng thì bài theo luật bằng, nếu là thanh trắc thì bài theo luật trắc.
Thất niêm là lỗi gì?
Thất niêm là khi chữ thứ hai của hai câu phải niêm với nhau lại khác thanh, làm bài thơ mất sự luân phiên đều đặn. Đây là lỗi bị coi nặng trong thơ luật xưa.
Bài thơ Đường luật có bắt buộc gieo vần bằng không?
Phần lớn thơ Đường luật gieo vần bằng, vần trắc rất hiếm. Thơ Nôm Đường luật quen thuộc của Việt Nam hầu hết dùng vần bằng.
Quốc âm thi tập có gì đặc biệt về hình thức?
Tập thơ Nôm của Nguyễn Trãi có nhiều câu sáu chữ xen trong bài thất ngôn, cho thấy sự sáng tạo khi đưa nhịp tiếng Việt vào khuôn thơ Đường.