HocThuatCo.comHọc Thuật Cổ
Gửi thư
Văn học cổ điển Việt Nam

Đọc Hịch tướng sĩ theo mạch lập luận: năm bước thuyết phục người nghe

Hịch tướng sĩ không chỉ là lời hiệu triệu đầy cảm xúc mà là một bài lập luận có thứ tự chặt: nêu gương, chỉ hiểm hoạ, bày lòng, trách lỗi, chỉ đường. Đọc theo mạch đó, bài văn mở ra rất khác.

Đọc Hịch tướng sĩ theo mạch lập luận: năm bước thuyết phục người nghe

Hịch tướng sĩ thuyết phục được người nghe vì nó đi theo năm bước có thứ tự: nêu gương trung nghĩa trong sử sách, chỉ ra hiểm hoạ trước mắt, bày tỏ nỗi lòng chủ tướng, trách lỗi tướng sĩ, rồi chỉ con đường phải theo. Đọc đúng mạch ấy, mỗi đoạn đều có lý do đứng ở chỗ của nó.

Nhiều người nhớ bài hịch qua vài câu đầy cảm xúc, nhất là đoạn chủ tướng tới bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối. Nhưng nếu chỉ đọc bằng cảm xúc, bạn sẽ bỏ qua cái tài lớn nhất của Trần Quốc Tuấn: một bài văn hiệu triệu được dựng như một cuộc trò chuyện có chủ ý với từng hạng người trong quân, đánh vào danh dự, quyền lợi và nỗi sợ của họ theo đúng thứ tự.

Hịch là thể văn gì và bài này viết trong hoàn cảnh nào?

Hịch là thể văn nghị luận thời xưa, dùng để kêu gọi, cổ vũ hoặc thông báo cho đông người, thường gắn với việc quân. Hịch có thể viết bằng văn xuôi, văn vần hay văn biền ngẫu, giọng hùng hồn, lý lẽ sắc và nhiều câu đối nhau để dễ đọc to trước hàng quân.

Bài hịch này có tên chữ Hán là Dụ chư tỳ tướng hịch văn, nghĩa là bài hịch dụ các tướng dưới quyền. Theo cách hiểu phổ biến trong sách giáo khoa, bài được viết trước cuộc kháng chiến chống quân Nguyên lần thứ hai, khi sứ giặc đi lại ngang ngược trong kinh thành và nguy cơ chiến tranh đã rất gần. Người viết là Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn, người được giao chỉ huy quân đội.

Điều cần nhớ khi đọc: người nghe bài hịch không phải dân chúng nói chung mà là tướng sĩ, gia thần đã sống lâu năm dưới quyền chủ tướng. Vì thế giọng văn vừa là của bề trên nói với kẻ dưới, vừa là của người cùng nhà nói với nhau. Hai giọng ấy đan nhau suốt bài, và chính sự đan xen này làm bài hịch vừa nghiêm vừa gần.

Năm bước lập luận nằm ở đâu trong bài?

Chia bài theo chức năng lập luận chứ không theo số đoạn in trong sách, bạn sẽ thấy rõ bộ khung sau.

BướcNội dung chínhTác dụng với người nghe
1. Nêu gươngKể những thần tử trung nghĩa trong sử sách sẵn sàng chết vì chủĐặt chuẩn mực danh dự, khiến người nghe tự so mình
2. Chỉ hiểm hoạTả sứ giặc ngang ngược, đòi ngọc lụa, vơ vét của khoBiến nguy cơ xa thành nỗi nhục trước mắt
3. Bày lòngNỗi đau, nỗi căm của chính chủ tướngLấy gương sống ngay trước mặt thay cho gương trong sách
4. Trách lỗiPhê phán lối sống hưởng lạc, vô trách nhiệm của tướng sĩGây hổ thẹn, phá thế thờ ơ
5. Chỉ đườngYêu cầu tập luyện theo binh thư, phân rõ hai con đườngBiến cảm xúc thành hành động cụ thể

Lưu ý là bước 3 đứng giữa bài, không phải ở đầu. Chủ tướng không mở lời bằng chuyện của mình. Ông để người nghe thấy chuẩn mực trước, thấy nhục trước, rồi mới bước ra như một người đang sống đúng chuẩn mực ấy. Đặt nỗi lòng ở chỗ này, lời trách phía sau mới có sức nặng.

Vì sao bài mở bằng gương người xưa chứ không bằng tình hình trước mắt?

Gương trong sử sách làm thước đo

Đoạn đầu kể những người như Kỷ Tín, Do Vu, Dự Nhượng: người chết thay chủ, người lấy thân che giáo cho vua, người báo thù cho chủ. Với tướng sĩ thời ấy, đó là những tên tuổi quen thuộc trong sách học. Nhắc tới họ, chủ tướng không cần giảng đạo lý; ông chỉ đặt một cây thước lên bàn.

Câu then chốt của đoạn này là ý: những người ấy lưu danh vì dám chết cho điều đúng. Người nghe hiểu ngay rằng danh tiếng mà họ mong có không tự nhiên mà đến.

Gương xa trước, chuyện gần sau

Theo thói quen của văn nghị luận xưa, đi từ cái chung, cái đã được thừa nhận, tới cái riêng đang cần quyết định. Khi người nghe đã gật đầu với chuẩn mực, việc áp chuẩn mực ấy vào hoàn cảnh của chính họ trở nên khó cãi. Bạn có thể nhận ra lối đi này ở nhiều văn bản nghị luận thời trung đại, kể cả các bài chiếu, bài cáo.

Đoạn bày tỏ nỗi lòng chủ tướng nên đọc thế nào?

Đây là đoạn được trích nhiều nhất, và cũng dễ đọc sai nhất nếu chỉ coi là lời than. Câu gốc mở đầu: Dư thường lâm xan vong thực, trung dạ phủ chẩm, thế tứ giao di, tâm phúc như đảo. Dịch sát: Ta thường tới bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối, nước mắt nước mũi giàn giụa, ruột gan như bị giã.

Hãy để ý cách các vế xếp liền nhau, mỗi vế bốn chữ, nhịp dồn dập như hơi thở gấp. Đó là văn biền ngẫu dùng đúng chỗ: không phải để trang trí mà để người nghe cảm được cường độ của cảm xúc. Tiếp đó là câu thề muốn ăn thịt, nằm da, uống máu quân thù, rồi lời tuyên bố sẵn sàng chết trăm lần.

Đọc theo mạch lập luận, đoạn này có một chức năng rõ: chủ tướng tự đặt mình làm gương sống. Ông không đòi ở tướng sĩ điều mà ông không làm. Ngay sau đó, khi chuyển sang trách lỗi, ông có quyền nói vì người nghe vừa thấy ông đứng ở đâu.

Phần trách lỗi tướng sĩ có gì đặc biệt?

Trách bằng những thú vui cụ thể. Chủ tướng không nói chung chung là các ngươi lười. Ông kể ra từng thú: chọi gà, cờ bạc, ruộng vườn, vợ con, săn bắn, rượu ngon, hát xướng. Người nghe thấy đúng mình trong đó, nên không thể chối.

Đặt thú vui cạnh hậu quả. Mỗi thú vui được đặt cạnh câu hỏi: khi giặc đến thì những thứ ấy có cứu được không? Cựa gà không đâm thủng được áo giáp giặc, mẹo cờ bạc không dùng làm mưu lược được. Lối đối chiếu này làm cái vui nhỏ hiện ra lố bịch.

Nhắc ân nghĩa đã nhận. Trước khi trách, chủ tướng kể lại sự chăm lo của mình: không có mặc thì cho áo, không có ăn thì cho cơm, quan nhỏ thì thăng chức. Lời trách vì thế không phải lời mắng của kẻ xa lạ mà là lời của người đã cho đi nhiều.

Đánh vào điều người nghe sợ mất. Phần này vẽ ra cảnh nước mất thì thái ấp, bổng lộc, vợ con, mồ mả tổ tiên đều không giữ được. Danh dự ở bước một, quyền lợi ở bước bốn: hai đòn bẩy bổ sung cho nhau.

Kết bài chỉ ra con đường nào?

Bài hịch không kết bằng tiếng hô suông. Chủ tướng nói rõ đã soạn sách binh pháp, tức Binh thư yếu lược, và yêu cầu tướng sĩ chăm tập theo. Ông vạch hai lối: theo lời dạy thì là thần tử của ta, trái lời thì là kẻ thù của ta. Lựa chọn được đặt thẳng, không có chỗ đứng giữa.

Đây là phần mà người đọc hiện nay hay lướt qua, nhưng nó cho thấy bài hịch là văn bản hành động. Mọi cảm xúc ở trên dồn về một việc cụ thể, đo được: luyện tập. Một bài văn kêu gọi mà không nói người nghe phải làm gì vào sáng mai thì chỉ là lời than; bài này không mắc lỗi ấy.

Tự đọc lại bài hịch trong một buổi: làm theo thứ tự nào?

Nếu bạn là sinh viên ngữ văn hay giáo viên cần soạn bài, cách đọc sau giúp thấy khung lập luận mà không lạc vào từng câu chữ.

  1. Đọc liền một lượt bản dịch, không dừng tra chú thích, để nắm giọng điệu chung.
  2. Lấy bút chì kẻ ranh giới năm bước như bảng trên; đặt tên mỗi bước bằng một động từ: nêu, chỉ, bày, trách, vạch.
  3. Với mỗi bước, gạch dưới câu đổi hướng, thường là câu bắt đầu bằng lời gọi hoặc câu hỏi.
  4. Đối chiếu một hai câu then chốt với phiên âm Hán Việt để thấy nhịp bốn chữ, sáu chữ của văn biền ngẫu.
  5. Ghi ra giấy: mỗi bước đánh vào điều gì của người nghe (danh dự, nỗi nhục, tình nghĩa, quyền lợi, hành động).
  6. Cuối cùng mới đọc các bài phân tích; lúc ấy bạn có khung riêng để đồng ý hay phản biện.

Lỗi hay gặp là học thuộc nhận định có sẵn rồi tìm câu minh hoạ. Làm ngược như vậy, bài nào cũng thành một mớ trích dẫn. Còn một việc không cần làm: không cần thuộc hết tên các nhân vật trong đoạn nêu gương. Hiểu chức năng của đoạn quan trọng hơn nhớ từng cái tên.

Câu hỏi thường gặp

Hịch tướng sĩ được viết bằng chữ gì?

Bài được viết bằng chữ Hán, theo lối văn biền ngẫu xen văn xuôi. Bản chúng ta đọc trong sách là bản dịch ra tiếng Việt hiện đại, nên muốn cảm nhịp văn thì nên đọc thêm phần phiên âm Hán Việt của vài câu then chốt.

Hịch khác cáo và chiếu ở điểm nào?

Chiếu là mệnh lệnh của vua ban xuống, cáo dùng để công bố một việc lớn đã xong cho mọi người biết, còn hịch chủ yếu để kêu gọi, cổ vũ người nghe hành động, thường dùng trong việc quân.

Vì sao bài hịch nêu nhiều gương người Trung Hoa?

Với người học thời ấy, sử sách Trung Hoa là kho điển tích chung, ai đi học cũng biết. Dùng gương quen thuộc giúp lời văn có sức nặng ngay mà không phải giải thích dài dòng.

Binh thư yếu lược còn lưu giữ nguyên vẹn không?

Có những bản mang tên này được lưu truyền về sau, nhưng giới nghiên cứu còn bàn về mức độ giữ đúng nguyên bản thời Trần. Khi trích dẫn, bạn nên ghi rõ đang dùng bản nào và tham khảo ý kiến văn bản học.

Học sinh nên nhớ gì nhất khi học bài này?

Nên nhớ mạch lập luận và tác dụng của từng phần với người nghe, kèm một hai câu then chốt. Hiểu vì sao bài được sắp xếp như vậy giúp làm được nhiều dạng đề hơn là thuộc lòng nhận xét.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

🧭
Bạn đang ở chặng nào của đường học vị?
Nhập chỗ bạn đang đứng và đích bạn nhắm — công cụ trả về số năm, chi phí và việc phải làm từng chặng.
Xem lộ trình của tôi →
Miễn phí, không cần tài khoản. Xem tất cả công cụ

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.

hoặc
[email protected]