Văn tế là thể văn dùng để đọc khi tưởng nhớ người đã mất, kể công đức và bày tỏ nỗi thương tiếc. Bố cục thường có bốn phần: lung khởi mở ý chung, thích thực kể về người mất, ai vãn than tiếc, khốc tận khép lại. Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc theo đúng khuôn này.
Văn tế thường được học như một bài văn yêu nước, và điều đó đúng với bài của Nguyễn Đình Chiểu. Nhưng nếu không biết khuôn của thể loại, người đọc khó thấy chỗ tác giả làm mới. Bài này đi từ thể loại tới từng phần của bài văn tế, rồi dừng ở cách câu văn được dựng, phần mượn từ kỹ thuật của phú.
Văn tế là thể văn gì?
Văn tế thuộc loại văn chức năng: được viết để đọc trong buổi tưởng niệm người đã khuất. Nội dung thường kể lại cuộc đời, công đức, phẩm chất của người mất và bày tỏ nỗi đau của người còn sống. Văn tế có thể viết bằng chữ Hán hay chữ Nôm, phổ biến nhất là lối văn biền ngẫu có vần, nhưng cũng có văn tế viết theo thể lục bát hay song thất lục bát.
Vì là văn đọc to trước đông người, văn tế cần nhịp rõ, câu đối để dễ nghe, và giọng điệu thống thiết. Nhiều bài văn tế chỉ là văn bản nghi thức. Những bài đi vào văn học là những bài vượt khỏi khuôn sáo, nói được điều thật và riêng về người được tưởng nhớ.
Bố cục bốn phần và chỗ của nó trong bài
Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc thường được chia như sau trong nhà trường.
| Phần | Chức năng | Trong bài văn tế nghĩa sĩ |
|---|---|---|
| Lung khởi | Mở bài, nêu ý khái quát về người mất và thời thế | Bối cảnh đất nước có giặc, ý nghĩa của cái chết vì nghĩa |
| Thích thực | Kể lại cuộc đời, việc làm của người mất | Xuất thân nông dân, lòng căm giặc, việc tự nguyện ra trận, trận đánh |
| Ai vãn | Than tiếc, bày tỏ nỗi đau của người sống | Nỗi thương của gia đình, của cảnh vật, của cộng đồng |
| Khốc tận | Khép lại, khóc thương lần cuối, ca ngợi | Khẳng định cái chết bất tử, lời tưởng niệm |
Phần kết có sách gọi là khốc tận, có sách gọi chung là phần kết. Tên gọi không quan trọng bằng việc nhận ra chức năng: mỗi phần đổi giọng, từ khái quát, sang kể, sang than, rồi khép.
Lung khởi: câu mở đầu làm gì?
Hai vế, hai thế giới
Bài mở bằng tiếng gọi Hỡi ơi! rồi một câu hai vế: Súng giặc đất rền; lòng dân trời tỏ. Vế đầu là hiện thực chiến tranh, vế sau là lòng người. Đất đối trời, giặc đối dân, rền đối tỏ. Ngay từ đầu, câu văn đặt hai lực lượng đối mặt nhau.
Từ chung tới riêng
Sau câu mở, phần lung khởi nói về ý nghĩa của việc dám chết vì nghĩa, rồi dẫn vào những con người cụ thể. Đây là lối đi quen của văn tế: khái quát trước, sau mới kể. Bạn sẽ thấy cấu trúc này ở nhiều bài văn tế khác.
Thích thực: vì sao đây là phần làm nên bài văn?
Văn tế truyền thống thường viết về người có chức tước, có công danh. Bài của Nguyễn Đình Chiểu viết về những người nông dân, lần đầu được tạc chân dung đẹp đến vậy trong văn chương trung đại. Phần thích thực kể họ vốn chỉ quen cày cuốc, chưa từng tập quân sự, nhưng thấy giặc tới thì tự nguyện đứng lên.
Chi tiết làm phần này sống là những đồ vật đời thường: áo vải, ngọn tầm vông, con cúi rơm. Không có giáo gươm của nhà binh, chỉ có những thứ người nông dân có trong nhà. Tác giả không tô vẽ họ thành anh hùng thần thánh; ông giữ nguyên sự mộc mạc và chính sự mộc mạc ấy làm hành động của họ lớn lao.
Khi đọc phần này, hãy gạch dưới những từ ngữ Nam Bộ. Nguyễn Đình Chiểu dùng lời ăn tiếng nói của người miền Nam đặt vào khuôn văn biền ngẫu, một sự kết hợp ít thấy. Chỗ gặp nhau giữa khuôn bác học và lời bình dân là chỗ đáng phân tích nhất.
Câu văn tế mượn kỹ thuật của phú ra sao?
Câu song quan. Hai vế đối nhau, mỗi vế là một mạch liền. Câu mở đầu là ví dụ: hai vế bốn chữ, ngắn, chắc như hai tiếng trống.
Câu cách cú. Mỗi vế chia một đoạn ngắn, một đoạn dài. Câu nổi tiếng: Mười năm công vỡ ruộng, chưa ắt còn danh nổi như phao; một trận nghĩa đánh Tây, thân tuy mất tiếng vang như mõ. Đoạn ngắn mười năm công vỡ ruộng đối một trận nghĩa đánh Tây; đoạn dài chưa ắt còn danh nổi như phao đối thân tuy mất tiếng vang như mõ.
Đối mà vẫn đời thường. Phao và mõ là đồ vật quen thuộc ở làng quê, đặt vào thế đối trang trọng. Cái tài nằm ở chỗ giữ được khuôn mà không mất giọng của người nông dân.
Vần và nhịp đọc. Các vế được gieo vần để người đọc ngân giọng ở cuối. Khi đọc to, bạn sẽ nghe chỗ dừng tự nhiên trùng với ranh giới vế đối.
Ai vãn và khốc tận: giọng than đổi thế nào?
Phần ai vãn chuyển sang nỗi đau của người ở lại: mẹ già, vợ yếu, cảnh làng xóm vắng bóng người thân. Câu văn ở đây chậm lại, nhiều hình ảnh thiên nhiên nhuốm buồn. Đây là phần mà giọng đọc cần trầm hẳn so với phần thích thực.
Phần kết khẳng định cái chết của nghĩa sĩ có ý nghĩa: họ chết mà danh tiếng còn, sống mà làm điều trái nghĩa thì không bằng. Giọng văn từ than khóc chuyển sang ngợi ca. Hai trạng thái ấy không mâu thuẫn; chính sự đan xen làm bài văn tế vừa đau vừa hào hùng.
Văn tế khác điếu văn ngày nay ở điểm nào?
Điếu văn ngày nay thường là văn xuôi, đọc trong lễ tang, kể tiểu sử và bày tỏ lời chia buồn. Văn tế xưa có chung mục đích tưởng nhớ, nhưng là một thể văn chương có khuôn: câu đối, có vần, chia phần, giọng ngân. Người viết văn tế phải có tay nghề chữ nghĩa, giống như người làm phú hay câu đối.
Hiểu khác biệt này giúp bạn tránh một ngộ nhận: văn tế không phải lời khóc tự phát được chép lại. Nỗi đau trong văn tế được tổ chức bằng nghệ thuật. Chính việc tổ chức ấy cho phép bài văn đi xa khỏi buổi tưởng niệm, được chép lại, được học thuộc và đọc lại sau hàng trăm năm. Một bài điếu văn thông thường hiếm khi sống lâu như vậy.
Nếu bạn muốn luyện cảm thể loại, thử đọc liền phần thích thực rồi phần ai vãn, chỉ chú ý giọng. Bạn sẽ thấy người viết điều khiển nhịp câu như người chỉ huy dàn nhạc: nhanh, mạnh khi kể trận đánh; chậm, ngân khi nói về người ở lại.
Lỗi hay gặp khi phân tích bài văn tế
Những lỗi dưới đây hay gặp trong bài làm phân tích tác phẩm này.
- Chỉ kể nội dung yêu nước mà không nói gì về đặc trưng thể loại văn tế.
- Không nhận ra phần thích thực là chỗ làm mới, vì nhân vật là người nông dân.
- Bỏ qua kỹ thuật câu, gọi chung là câu văn hay mà không chỉ ra đối ở đâu.
- Trích quá dài; nên chọn ba bốn câu đại diện cho các phần.
- Gọi văn tế là thơ; văn tế là văn biền ngẫu, không phải thơ.
Việc không cần làm: không cần chứng minh từng câu đúng luật bằng trắc. Với bài phân tích văn học, chỉ ra cấu trúc đối và tác dụng là đủ.
Câu hỏi thường gặp
Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc được viết khi nào?
Theo tài liệu phổ thông, bài văn tế được Nguyễn Đình Chiểu viết năm 1861, sau trận đánh đồn Cần Giuộc của những nghĩa quân nông dân.
Văn tế có phải là thơ không?
Văn tế thường là văn biền ngẫu có vần, gần với phú, không phải thơ. Tuy vậy cũng có những bài văn tế viết theo thể lục bát hoặc song thất lục bát.
Bốn phần của văn tế là gì?
Bốn phần thường gặp là lung khởi mở ý chung, thích thực kể về người mất, ai vãn than tiếc, và khốc tận khép lại bài văn bằng lời thương tiếc, ca ngợi cuối cùng.
Điều gì làm bài văn tế này đặc biệt?
Bài văn tế lần đầu dựng tượng đài người nông dân nghĩa sĩ trong văn học trung đại, bằng lời lẽ mộc mạc Nam Bộ đặt trong khuôn văn biền ngẫu trang trọng.
Câu cách cú trong văn tế là gì?
Là câu mà mỗi vế chia thành một đoạn ngắn và một đoạn dài, đoạn ngắn vế trên đối đoạn ngắn vế dưới, đoạn dài đối đoạn dài.