Điển cố là chuyện xưa hoặc câu chữ trong sách cũ được người sau gói lại thành vài chữ để gợi cả câu chuyện. Nhận ra điển nhờ dấu hiệu: tên người, tên đất lạ, cụm bốn chữ không hợp nghĩa đen, hình ảnh lặp trong nhiều bài. Tra gốc bằng từ điển điển cố và chú thích của bản in đáng tin.
Người xưa viết cho những người cùng đọc một tủ sách. Nhắc tới “tri âm” là ai cũng nhớ chuyện Bá Nha đập đàn; nhắc “tùng cúc” là ai cũng nghĩ tới người về ở ẩn. Người đọc nay không có tủ sách chung ấy, nên gặp điển là gặp một cánh cửa đóng. Đọc nghĩa đen sẽ ra câu vô nghĩa hoặc, tệ hơn, ra một nghĩa sai mà nghe vẫn xuôi.
Dấu hiệu cho biết câu đang dùng điển
Không có dấu hiệu nào chắc chắn tuyệt đối, nhưng khi gặp một trong những điều sau, hãy dừng lại nghi ngờ trước khi dịch.
- Tên người, tên đất không liên quan gì tới bối cảnh bài, như một bài thơ tả cảnh làng Việt mà nhắc tên một nhạc sư nước Sở.
- Cụm bốn chữ đọc nghĩa đen thấy lạ: ôm cây đợi thỏ, khắc thuyền tìm gươm.
- Một vật bình thường được nhắc với sắc thái trang trọng bất ngờ: tùng, cúc, dâu, gươm, đàn.
- Con số đi với sự vật lặp lại trong nhiều bài: ba lối nhỏ, ba lần dời nhà.
- Câu đọc trơn nhưng ý không ăn với câu trước câu sau.
- Chú thích cuối trang của bản in có đánh số ở chữ đó.
Một số điển quen trong văn chương Việt
Bảng dưới chỉ gom những điển rất phổ biến, nguồn gốc ghi theo các sách chú giải thông dụng.
| Điển | Chữ Hán | Gốc chuyện | Nghĩa khi dùng |
|---|---|---|---|
| Bể dâu | 滄海桑田 thương hải tang điền | truyện cổ kể biển xanh hoá ruộng dâu | cuộc đời đổi thay lớn |
| Tri âm | 知音 | Bá Nha gảy đàn, Tử Kỳ nghe hiểu, chép trong Lã Thị Xuân Thu và Liệt Tử | bạn hiểu lòng mình |
| Ôm cây đợi thỏ | 守株待兔 thủ chu đãi thố | Hàn Phi Tử, thiên Ngũ đố | chờ may rủi, bám lối cũ |
| Khắc thuyền tìm gươm | 刻舟求劍 khắc chu cầu kiếm | Lã Thị Xuân Thu, thiên Sát kim | cứng nhắc, không thấy hoàn cảnh đã đổi |
| Tái ông mất ngựa | 塞翁失馬 tái ông thất mã | Hoài Nam Tử, thiên Nhân gian huấn | hoạ phúc khó lường |
| Tùng cúc, ba lối nhỏ | 三徑就荒,松菊猶存 | Quy khứ lai từ của Đào Uyên Minh | nơi ở của người về ẩn |
| Ngu Công dời núi | 愚公移山 | Liệt Tử, thiên Thang vấn | bền chí làm việc lớn |
Điển trong câu thơ quen: “bể dâu” ở đầu Truyện Kiều
Bốn câu mở đầu Truyện Kiều có câu “Trải qua một cuộc bể dâu”. Người Việt thuộc câu này từ nhỏ, nhưng ít ai dừng lại hỏi vì sao lại là bể và dâu. Đó là điển 滄海桑田 thương hải tang điền, biển xanh hoá ruộng dâu, chỉ sự đổi thay lớn của cuộc đời. Nguyễn Du đã Việt hoá điển này thành hai chữ thuần Việt, gọn và tự nhiên đến mức nhiều người đọc không nhận ra đó là điển.
Đây là kiểu điển khó nhận nhất: điển đã được dịch, đã đi vào tiếng Việt thành thành ngữ. Truyện Kiều và văn Nôm nói chung có rất nhiều điển như vậy. Bản chú giải tốt sẽ chỉ ra, và đọc chú giải cùng văn bản là cách nhanh nhất để quen với chúng.
Điển dùng chuyện và điển dùng chữ
Điển dùng chuyện
Là kiểu gói cả một câu chuyện vào vài chữ, như tri âm, ôm cây đợi thỏ, tái ông mất ngựa. Muốn hiểu phải biết chuyện; biết nghĩa từng chữ không đủ. Đây là kiểu người mới hay vấp nhất, vì câu đọc nghĩa đen vẫn có vẻ xuôi.
Điển dùng chữ
Là kiểu mượn nguyên câu hoặc nửa câu trong sách kinh điển đặt vào bài của mình, như ôn cố tri tân lấy từ Luận ngữ. Người đọc xưa nhận ra ngay vì thuộc sách; người đọc nay thì thường tưởng đó là lời của tác giả. Dấu hiệu là một cụm có nhịp rất gọn, khác hẳn giọng các câu quanh nó.
Vì sao cần phân biệt
Với điển dùng chuyện, việc chính là kể lại được chuyện gốc và hiểu sắc thái của nó. Với điển dùng chữ, việc chính là biết câu ấy trong sách gốc nằm ở văn cảnh nào, vì người viết thường muốn gợi cả đoạn quanh đó chứ không chỉ mấy chữ được trích. Chú giải tốt sẽ chỉ rõ đây là kiểu nào.
Cách tra một điển từ đầu đến cuối
Khi đã nghi một cụm là điển, làm theo thứ tự này.
- Chép chính xác cụm chữ Hán hoặc cụm Nôm, kể cả các chữ đứng quanh, vì một điển có thể được rút gọn theo nhiều cách.
- Tra trong từ điển thành ngữ, điển cố Hán Việt; nhiều điển có mục riêng kèm nguồn gốc.
- Nếu từ điển dẫn tên sách, tìm đoạn gốc trong sách đó qua bản in có chấm câu và chú thích.
- Đọc đoạn gốc để biết điển mang sắc thái gì: khen, chê, tiếc nuối hay giễu cợt.
- Quay lại câu đang đọc, kiểm xem tác giả dùng điển đúng sắc thái gốc hay đã đổi đi.
- Ghi vào sổ: cụm chữ, nguồn gốc, nghĩa khi dùng, câu bạn gặp nó.
Bước năm hay bị bỏ qua nhưng rất quan trọng. Nhà thơ giỏi có khi dùng điển ngược ý gốc để tạo bất ngờ; chỉ biết nghĩa gốc mà không đọc lại câu thì sẽ hiểu ngược.
Ba lỗi khi chú giải điển
Bịa nguồn gốc cho trôi
Lỗi nguy hiểm nhất. Gặp điển không rõ, người chú giải viết đại một câu chuyện nghe hợp lý. Chuyện bịa ấy được chép lại nhiều lần và thành “sự thật”. Không tìm được gốc thì ghi rõ là chưa rõ nguồn, đừng lấp chỗ trống.
Gán mọi cụm lạ là điển
Không phải cụm nào lạ cũng là điển; có khi chỉ là cách nói riêng của tác giả hoặc là chữ chép sai. Trước khi đi tìm điển, kiểm lại văn bản có bản nào khác chữ không.
Giải điển dài hơn cả bài thơ
Chú thích cần đủ để hiểu câu, không cần kể lại cả cuốn sách gốc. Một hai câu về nguồn gốc và một câu về nghĩa khi dùng là vừa.
Đọc điển trong câu đối, hoành phi ở đình làng
Câu đối và hoành phi ở nhà thờ họ, đình làng dùng điển dày đặc vì chỉ có vài chữ mà phải nói nhiều. Các điển hay gặp xoay quanh hiếu học, giữ nếp nhà, nhớ cội nguồn, ở ẩn thanh cao. Gặp hai vế đối, hãy tìm điển ở vị trí đối nhau: nếu vế trên có một điển, vế dưới thường cũng có một điển cùng loại.
Một tình huống hay gặp: con cháu trong họ muốn hiểu đôi câu đối ở nhà thờ, chụp ảnh gửi nhờ người biết chữ đọc giúp. Người đọc giỏi sẽ trả về ba thứ: phiên âm, dịch nghĩa, và chú thích điển nếu có. Nếu bản đọc chỉ có một câu dịch hoa mỹ mà không có chú thích, bạn nên hỏi thêm chữ nào là điển và gốc ở đâu.
Cũng nên nhớ câu đối ở đình, nhà thờ họ có khi được làm lại, sơn lại qua nhiều đời, chữ có thể bị tô sai nét. Khi một điển tra mãi không ra, hãy xem lại mặt chữ trên ảnh chụp gần và ảnh chụp nghiêng trước khi kết luận đó là một điển lạ.
Câu hỏi thường gặp
Điển cố và điển tích có khác nhau không?
Hai từ thường dùng gần như nhau. Một số người phân biệt điển tích nghiêng về câu chuyện, còn điển cố gồm cả câu chữ trong sách xưa được dẫn lại. Trong đọc hiểu văn cổ, cách nhận và cách tra là như nhau.
Vì sao người xưa dùng nhiều điển cố?
Vì người viết và người đọc cùng học một tủ sách kinh điển. Vài chữ gợi được cả câu chuyện và cả sắc thái, làm câu văn hàm súc. Dùng điển đúng chỗ còn là cách thể hiện học vấn.
Bể dâu trong Truyện Kiều là điển gì?
Bể dâu là cách Nguyễn Du Việt hoá điển thương hải tang điền, biển xanh hoá ruộng dâu, chỉ những đổi thay lớn của cuộc đời. Điển này về sau thành thành ngữ quen thuộc trong tiếng Việt.
Không tra được nguồn của một điển thì làm sao?
Ghi rõ là chưa rõ nguồn và nêu cách hiểu tạm theo văn cảnh. Không nên tự dựng một câu chuyện để lấp chỗ trống, vì chuyện bịa dễ bị chép lại và thành sai lệch lâu dài.
Câu đối ở đình làng có hay dùng điển không?
Rất hay, vì câu đối chỉ có ít chữ mà cần nói nhiều. Điển thường xoay quanh hiếu học, nếp nhà, nhớ cội nguồn. Hai vế đối thường đặt điển ở vị trí đối nhau.
Có cần thuộc nhiều điển mới đọc được văn cổ không?
Không cần thuộc trước. Cứ đọc kèm chú giải, gặp điển nào ghi vào sổ điển đó. Sau một thời gian, những điển phổ biến sẽ tự quen và bạn nhận ra chúng ngay khi gặp lại.