Về Chu Văn An, điều biết chắc khá ít: ông sống đời Trần, mở trường dạy học, được mời giảng ở Quốc Tử Giám, dâng sớ xin trừng trị nịnh thần rồi lui về Chí Linh. Sách ông viết gần như đã mất; phần còn lại chủ yếu là vài chục bài thơ và lời chép trong sử.
Vì sách mất nên hình ảnh Chu Văn An được dựng chủ yếu bằng lời người sau, trong đó trộn cả chính sử, lời khen của các nhà nho đời sau và truyền thuyết dân gian. Người mê cổ học muốn hiểu ông đúng thì việc đầu tiên là phân loại các lớp tư liệu ấy, thay vì tin hết hay ngờ hết.
Chu Văn An là ai, sống thời nào?
Chu Văn An, tên thật là Chu An, hiệu Tiều Ẩn, sống khoảng từ cuối thế kỷ XIII đến năm 1370, quê ở vùng Thanh Đàm, nay thuộc Hà Nội. Ông nổi tiếng từ khi còn trẻ vì học vấn và việc mở trường dạy học, học trò đến từ nhiều nơi.
Đời vua Trần Minh Tông, ông được mời làm Tư nghiệp Quốc Tử Giám, tức người phụ trách việc giảng dạy ở nơi học cao nhất của triều đình, và dạy cả thái tử. Đến đời Trần Dụ Tông, triều chính suy, ông dâng sớ xin chém bảy kẻ nịnh thần — sử gọi là Thất trảm sớ. Vua không nghe, ông từ quan về ở ẩn ở Chí Linh, nay thuộc thành phố Hải Phòng, tiếp tục dạy học và viết sách.
Những nét lớn này có trong chính sử và được các nhà nho đời sau nhắc lại nhiều lần, nên có thể dùng làm khung. Chi tiết bên trong khung ấy thì cần thận trọng hơn.
Ba lớp tư liệu về Chu Văn An: tin tới đâu?
Cách gọn nhất để đọc về một học giả mà sách đã mất là xếp mọi điều mình nghe được vào ba ngăn.
| Lớp tư liệu | Ví dụ về Chu Văn An | Cách dùng |
|---|---|---|
| Chính sử chép | Làm Tư nghiệp Quốc Tử Giám, dâng Thất trảm sớ, từ quan về Chí Linh | Dùng làm khung tiểu sử, vẫn ghi nguồn |
| Văn bản còn lại | Một số bài thơ chữ Hán được các tuyển tập đời sau chép lại | Đọc trực tiếp để hiểu tâm thế, văn phong |
| Tên sách được nhắc | Tứ thư thuyết ước, các tập thơ Tiều Ẩn | Biết là từng có, không suy diễn nội dung |
| Truyền thuyết, giai thoại | Chuyện học trò là thuồng luồng hoá người, làm mưa cứu hạn | Đọc như văn hoá dân gian, không dùng làm sự kiện |
Bảng này không hạ thấp truyền thuyết. Truyền thuyết cho biết dân gian quý trọng ông thế nào; nó chỉ không cho biết ông đã thật sự làm gì.
Tứ thư thuyết ước là sách gì, vì sao đã mất?
Theo các nguồn đời sau, Tứ thư thuyết ước là sách ông soạn để giảng giải tóm lược bốn sách nền của Nho học: Đại học, Trung dung, Luận ngữ, Mạnh Tử. “Thuyết ước” có thể hiểu là nói gọn, nói cốt yếu. Nếu còn, đây sẽ là một trong những bằng chứng sớm về cách người Việt tự đọc và giảng kinh điển.
Sách đã mất, và hiện chưa thấy bản nào được xác nhận. Những nguyên nhân thường được nêu cho việc thư tịch đời Trần thất tán là chiến tranh, sự thu gom sách vở của quân Minh đầu thế kỷ XV và việc phần lớn sách chỉ tồn tại dưới dạng chép tay ít bản.
Chỗ cần tỉnh táo: vì sách mất nên không ai biết chắc nội dung cụ thể. Những bài viết mô tả “Chu Văn An giảng Tứ thư theo hướng này, hướng kia” mà không dẫn nguồn văn bản thì chỉ là suy đoán. Người viết cẩn thận sẽ dừng ở mức “sách từng có, với mục đích giảng tóm lược Tứ thư”.
Đọc thơ Chu Văn An còn lại thế nào?
Thơ là văn bản trực tiếp hiếm hoi
Một số bài thơ chữ Hán của ông được chép lại trong các tuyển tập thơ đời Lê như Toàn Việt thi lục và Hoàng Việt thi tuyển. Đây là thứ gần với con người ông nhất mà ta còn có. Phần lớn là thơ cảnh vật, cảnh núi rừng nơi ở ẩn, giọng điềm đạm, ít nói chuyện triều chính.
Đừng đọc mỗi câu thơ thành một tuyên ngôn
Người đọc hiện đại hay muốn tìm trong thơ ông thái độ chống nịnh thần hay bài học đạo đức. Thơ ở ẩn của nhà nho có những quy ước riêng: tả mây, tả trăng, tả tiếng chim để nói sự thanh thản. Gán cho mỗi hình ảnh một ẩn ý chính trị là đọc quá tay.
Luôn so bản dịch với phiên âm
Bản dịch thơ thường phải chọn giữa sát nghĩa và giữ vần. Khi muốn dẫn ý một bài, hãy đọc phần phiên âm Hán Việt và dịch nghĩa trước, bản dịch thơ sau. Nhiều hiểu lầm về “tư tưởng” của tác giả thật ra sinh ra từ một chữ được dịch thoáng.
Vì sao ông được coi là người thầy tiêu biểu?
Ông được coi là người thầy tiêu biểu vì cả ba lý do: dạy học lâu năm, có học trò thành đạt, và đặc biệt là giữ được tư cách khi ra làm quan. Hình ảnh một người thầy dám dâng sớ rồi bỏ chức về dạy học hợp với lý tưởng kẻ sĩ của Nho giáo, nên các triều sau nhiều lần đề cao ông.
Đời sau đưa ông vào Văn Miếu cùng các bậc tiên hiền của Nho học, và tên ông được đặt cho nhiều trường học. Đây là sự ghi nhận về mặt văn hoá giáo dục. Khi viết về ông, nên tránh lối tôn vinh đến mức thần thánh hoá; một người thầy được nhớ vì nhân cách và việc dạy học đã đủ đáng kính.
Nếu đặt ông cạnh những học giả có nhiều sách còn lại như Lê Quý Đôn hay Phan Huy Chú, sẽ thấy hai kiểu di sản khác nhau. Một kiểu là di sản văn bản: người đời sau mở sách ra đọc được. Kiểu kia là di sản nhân cách và nghề dạy: không còn sách, nhưng còn hình mẫu được nhắc lại qua nhiều thế kỷ. Chu Văn An thuộc kiểu thứ hai. Hiểu điều này giúp người viết không cố bù chỗ trống văn bản bằng những chi tiết tự nghĩ ra.
Cũng nên nhớ rằng thời Trần, Nho học chưa chiếm vị trí độc tôn như thời Lê sơ trở đi; học vấn của tầng lớp trí thức còn đan xen nhiều dòng tư tưởng khác. Việc một nhà nho như ông được trọng vọng cho thấy Nho học đang lớn dần trong đời sống học thuật, và Quốc Tử Giám là nơi nó được truyền dạy có hệ thống.
Viết hoặc kể về Chu Văn An: những việc nên tránh
Thầy cô dạy ngữ văn, lịch sử hay người viết bài phổ biến thường gặp các bẫy sau:
- Kể truyền thuyết thuồng luồng như sự kiện có thật. Nếu kể, nói rõ đó là truyền thuyết.
- Trích “nguyên văn Thất trảm sớ”. Văn bản tờ sớ không còn; sử chỉ chép việc ông dâng sớ và mục đích của nó.
- Gán cho ông những câu nói về giáo dục không rõ xuất xứ đang lan trên mạng. Không tìm được nguồn thì không trích.
- Đưa ra năm sinh như điều chắc chắn khi các nguồn ghi khác nhau. Năm mất 1370 được ghi nhận rộng rãi hơn.
- Mô tả chi tiết nội dung Tứ thư thuyết ước. Sách đã mất, chỉ còn tên và mục đích.
Một bài viết về Chu Văn An mà cẩn thận ở năm điểm này sẽ đáng tin hơn nhiều bài dài mà trộn lẫn mọi lớp tư liệu.
Câu hỏi thường gặp
Chu Văn An mất năm nào?
Ông mất năm 1370, đời Trần. Năm sinh được các nguồn ghi không thống nhất, thường nêu là cuối thế kỷ XIII.
Thất trảm sớ còn văn bản không?
Không. Sử chỉ chép việc ông dâng sớ xin chém bảy nịnh thần và vua không nghe. Nội dung chữ nghĩa của tờ sớ không còn.
Tứ thư thuyết ước nói về gì?
Theo các nguồn đời sau, đây là sách giảng tóm lược bốn sách Đại học, Trung dung, Luận ngữ, Mạnh Tử. Sách đã mất nên không biết nội dung cụ thể.
Chu Văn An về ở ẩn ở đâu?
Ông về Chí Linh, vùng núi đồi nay thuộc thành phố Hải Phòng, tiếp tục dạy học và làm thơ tới cuối đời.
Chuyện học trò thuồng luồng có thật không?
Đó là truyền thuyết dân gian, thể hiện lòng kính trọng với ông. Không nên kể như sự kiện lịch sử có thật.
Muốn đọc thơ Chu Văn An thì tìm ở đâu?
Một số bài còn được chép trong các tuyển tập thơ đời sau và trong các bộ sưu tập thơ văn Lý Trần đã dịch ra tiếng Việt. Nên đọc cả phiên âm lẫn dịch nghĩa.