Văn ngôn diễn đạt bị động bằng nhiều khuôn như 見 kiến, 為…所 vi…sở, 於 ư sau động từ; phủ định bằng cả chục chữ mỗi chữ một sắc thái; và rất nhiều câu hỏi là hỏi tu từ để khẳng định. Đọc nhầm một trong ba thứ này là đọc ngược ý câu.
Ba kiểu câu này có chung một điểm: chữ nhỏ, hậu quả lớn. Một chữ 於 đặt sau động từ biến người cai trị thành người bị cai trị. Một chữ 莫 bị đọc thành 不 làm câu “không ai” thành câu “không”. Một câu hỏi tu từ đọc như câu hỏi thật biến lời khẳng định chắc nịch thành lời phân vân. Bài này đi qua từng kiểu với ví dụ ngắn.
Bốn khuôn bị động hay gặp
見 kiến + động từ
Sử ký viết về Khuất Nguyên: 信而見疑,忠而被謗 tín nhi kiến nghi, trung nhi bị báng — thành tín mà bị nghi, trung thành mà bị gièm. 見 ở đây không phải “thấy” mà là dấu bị động, giống chữ 被 bị ở vế sau.
為 vi + người làm + 所 sở + động từ
Tên bài thơ của Đỗ Phủ 茅屋為秋風所破歌 Mao ốc vị thu phong sở phá ca — bài ca nhà tranh bị gió thu phá. Lưu ý: trong tên bài này người Việt quen đọc 為 là vị. Khuôn rút gọn không có 所 cũng hay gặp, như 不為酒困 bất vi tửu khốn trong Luận ngữ — không để rượu làm khốn đốn.
Động từ + 於 ư + người làm
勞力者治於人 — người lao lực bị người cai trị. Khuôn này rất dễ đọc nhầm thành chủ động vì không có chữ nào mang nghĩa “bị” rõ ràng.
Bị động không có dấu hiệu
Có khi câu bị động không có chữ đánh dấu nào, chỉ suy từ nghĩa: chủ ngữ là vật không thể tự làm hành động ấy. Gặp câu mà chủ ngữ là thành quách, sách vở, đất đai đi với động từ như phá, đốt, lấy, hãy nghĩ tới bị động.
Bảng các chữ phủ định và sắc thái
Văn ngôn không có một chữ “không” chung cho mọi việc. Mỗi chữ dưới đây mang một sắc thái riêng.
| Chữ | Âm | Nghĩa chính | Ví dụ | Ghi chú |
|---|---|---|---|---|
| 不 | bất | không (phủ định thường) | 學而不思則罔 | dùng rộng nhất |
| 弗 | phất | không (thường không kèm tân ngữ) | gặp nhiều trong văn trước Tần | gần với 不 |
| 未 | vị | chưa | 未之有也: chưa từng có | khác hẳn không |
| 莫 | mạc | không ai, không gì | 莫之能禦: không ai ngăn nổi | đại từ phủ định |
| 無, 毋 | vô | không có; chớ | thường đứng trước danh từ | 毋 hay dùng để cấm |
| 勿 | vật | chớ, đừng | 勿施於人 | lời khuyên, lời cấm |
| 非 | phi | không phải là | 子非魚 | phủ định câu phán đoán |
Phủ định kép: hai lần “không” là khẳng định mạnh
Văn ngôn thích nói khẳng định bằng hai lần phủ định để nhấn. 未嘗不 vị thường bất nghĩa là “chưa từng không”, tức là lần nào cũng. Câu trong Xuất sư biểu 未嘗不歎息痛恨於桓、靈也 nên dịch là “lần nào cũng than thở đau tiếc về thời vua Hoàn, vua Linh”. 莫不 mạc bất là “không ai không”, tức ai cũng; 無不 vô bất là “không gì không”, tức cái gì cũng.
Lỗi hay gặp là dịch nguyên hai lần “không” sang tiếng Việt, ra câu rối và dễ hiểu ngược. Nên chuyển thành khẳng định có chữ nhấn như “ai cũng”, “lần nào cũng”, “không ai là không” khi muốn giữ sức nặng.
Ngược lại, có những câu phủ định kép mang sắc thái bắt buộc chứ không chỉ nhấn mạnh. Khuôn 不可不 bất khả bất là không thể không, tức là phải; 不得不 bất đắc bất là không được không, tức là buộc phải. Dịch hai khuôn này thành “phải”, “buộc phải” là gọn và đúng. Còn 非…不 phi… bất là không phải… thì không, tức chỉ có… mới, thường dùng để nêu điều kiện duy nhất; dịch thành “chỉ có… mới…” là tự nhiên nhất trong tiếng Việt.
Câu hỏi thật và câu hỏi tu từ
Các chữ hỏi đầu câu
何 hà (gì, sao), 安 an (sao, đâu), 孰 thục (ai, cái nào), 誰 thuỳ (ai), 豈 khởi (há, lẽ nào). Câu 子非魚,安知魚之樂 dùng 安 để hỏi “sao biết”. Hàn Dũ viết trong Sư thuyết: 人非生而知之者,孰能無惑 nhân phi sinh nhi tri chi giả, thục năng vô hoặc — người không phải sinh ra đã biết, ai có thể không có điều ngờ vực.
Các chữ hỏi cuối câu
乎 hồ, 哉 tai, 與 hoặc 歟 dư, 耶 da. 乎 trung tính nhất; 哉 thiên về cảm thán; 與 thường nhẹ, mang ý phỏng đoán.
Nhận ra câu hỏi tu từ
Câu hỏi tu từ là câu không chờ trả lời mà dùng để khẳng định hoặc phủ định mạnh. Dấu hiệu: có 豈, 何…之有, 不亦…乎, hoặc câu hỏi mà câu trả lời đã hiển nhiên trong văn cảnh. Câu của Hàn Dũ thực chất khẳng định: ai cũng có điều ngờ vực, nên ai cũng cần thầy.
Chữ hỏi kiêm việc khác và câu hỏi giọng mềm
何以, 如何, 奈何
何以 hà dĩ có hai nghĩa: dùng cái gì để, hoặc vì sao. 如何 như hà, 若何 nhược hà, 奈何 nại hà thường là làm thế nào, xử thế nào. Khi xen tân ngữ vào giữa, như 如之何, nghĩa là đối với việc ấy thì làm sao. Người mới hay dịch tất cả thành “thế nào” và đánh mất ý “làm sao xử lý” trong câu.
安 không chỉ là “sao”
安 an trong câu hỏi là sao, đâu; nhưng ngoài câu hỏi, 安 vẫn là yên ổn như nghĩa quen. Phân biệt bằng vị trí: đứng trước động từ trong câu hỏi thì là chữ hỏi.
無乃…乎: câu hỏi giọng mềm
Khuôn 無乃…乎 vô nãi… hồ nghĩa là chẳng phải là… chăng, dùng để nêu ý mình một cách khéo. Luận ngữ chép lời Khổng Tử trách học trò: 求!無乃爾是過與 — Cầu này, chẳng phải là lỗi của anh sao. Câu vừa là câu hỏi giọng mềm, vừa có tân ngữ 爾 được đưa lên trước động từ, nhấn bằng 是. Dịch thành câu hỏi thật thì mất giọng trách khéo; dịch thành câu khẳng định gắt thì mất sự mềm mỏng.
Tình huống: một lời khen bị đọc thành lời chê
Trong một buổi sinh hoạt câu lạc bộ đọc sách cổ, một thành viên dịch câu 不亦君子乎 thành “cũng chẳng phải người quân tử”. Bạn ấy đọc đúng từng chữ: 不 là không, 亦 là cũng, 君子 là quân tử. Nhưng bỏ qua chữ 乎 cuối câu và khuôn 不亦…乎. Cả câu là hỏi tu từ: “chẳng cũng là người quân tử sao”, tức là khẳng định người ấy đúng là quân tử.
Bài học rút ra: khi câu có chữ phủ định và chữ hỏi cùng lúc, hãy đọc cả khuôn trước khi dịch từng chữ. Khuôn quyết định ý, chữ chỉ là vật liệu.
Tự kiểm sau khi dịch một câu có phủ định hoặc câu hỏi
Câu có mấy chữ phủ định? Hai chữ phủ định gần nhau thường là phủ định kép; chuyển thành khẳng định.
Chữ phủ định là bất, vị hay mạc? Không, chưa và không ai là ba ý khác nhau; đổi một chữ là đổi nghĩa.
Câu có chữ hỏi không, và người nói có chờ trả lời không? Nếu không chờ, đó là câu hỏi tu từ; dịch sao cho giữ được ý khẳng định hay phủ định ngầm.
Chủ ngữ là bên làm hay bên chịu? Kiểm lại các dấu kiến, vi…sở, ư sau động từ; nếu chủ ngữ là bên chịu, câu là bị động, và câu dịch tiếng Việt nên có chữ bị hoặc được cho rõ.
Câu hỏi thường gặp
Văn ngôn có chữ bị như tiếng Việt không?
Có chữ 被 bị, nhưng dùng ít hơn tiếng Việt nhiều. Văn ngôn hay dùng các khuôn khác như kiến cộng động từ, vi cộng người làm cộng sở cộng động từ, hoặc động từ cộng ư cộng người làm.
Chữ 未 và chữ 不 khác nhau thế nào?
Bất là không, phủ định chung. Vị là chưa, hàm ý việc đó có thể xảy ra về sau hoặc tính tới thời điểm nói thì chưa có. Đọc lẫn hai chữ dễ làm câu đổi nghĩa.
Chữ 莫 nghĩa là gì?
Trong văn ngôn, mạc thường là đại từ phủ định không ai, không gì. Câu mạc chi năng ngự là không ai ngăn nổi. Về sau mạc còn có nghĩa chớ, đừng.
Phủ định kép trong văn ngôn nên dịch thế nào?
Nên chuyển thành câu khẳng định có nhấn, như lần nào cũng, ai cũng, không ai là không. Dịch nguyên hai chữ không sang tiếng Việt thường làm câu rối và dễ hiểu ngược.
Làm sao biết một câu hỏi là câu hỏi tu từ?
Khi người nói không chờ trả lời và câu trả lời đã rõ trong văn cảnh. Dấu hiệu thường gặp là các khuôn khởi, hà… chi hữu, bất diệc… hồ.