Để tự học đọc văn ngôn, bạn cần ba loại công cụ: một từ điển Hán Việt có nhiều nghĩa cổ, một văn bản kinh điển có chú thích tốt, và một cuốn sổ ghi hư từ, cấu trúc, chữ quen nghĩa lạ. Luyện mỗi ngày một quãng ngắn, đều đặn, hiệu quả hơn học dồn cuối tuần.
Phần lớn người tự học văn ngôn bỏ dở không vì khó, mà vì không biết tuần này nên làm gì, sách nào nên mở. Họ mua nhiều sách, đọc mỗi cuốn vài trang, rồi thấy mình không tiến. Bài này gợi một kệ sách nhỏ vừa đủ và một lịch mười hai tuần, dành cho người đi làm có khoảng ba mươi phút mỗi ngày. Lịch có thể co giãn; điều quan trọng là thứ tự.
Kệ sách công cụ: loại nào, dùng làm gì
Từ điển chữ: tra một chữ
Hán Việt tự điển của Thiều Chửu là cuốn nhiều người học văn cổ ở Việt Nam dùng lâu năm: tra theo bộ, mỗi chữ ghi âm Hán Việt và nhiều nghĩa, có nghĩa cổ. Với chữ khó hoặc nghĩa hiếm, người học lâu năm tra thêm các từ điển lớn của Trung Hoa như Khang Hi tự điển.
Từ điển từ: tra từ ghép và thành ngữ
Hán Việt từ điển của Đào Duy Anh giải nghĩa từ ghép Hán Việt, giúp nối nghĩa chữ với từ tiếng Việt quen dùng. Với văn cổ, nhớ rằng từ ghép trong từ điển là nghĩa đã đi vào tiếng Việt, có thể khác nghĩa cổ.
Văn bản có chú thích
Một bản Luận ngữ hoặc Mạnh Tử có nguyên văn, phiên âm, dịch nghĩa và chú thích từng chữ là sách luyện chính. Nên chọn bản của người dịch có uy tín, chú thích kỹ, ghi rõ nguồn nguyên văn.
Sách ngữ pháp văn ngôn
Một cuốn hệ thống hư từ và cấu trúc câu, đọc từng chương khi gặp hiện tượng tương ứng trong văn bản, không đọc một mạch từ đầu.
Cách tra một chữ khi chưa biết âm đọc
Văn bản cổ không có phiên âm, nên phần lớn chữ phải tra theo bộ. Xác định bộ thủ, thường là phần bên trái, bên trên hoặc bao ngoài; đếm số nét phần còn lại; tìm trong mục bộ thủ của từ điển theo số nét đó. Việc này lúc đầu mất vài phút một chữ, sau vài tuần chỉ còn vài chục giây.
Công cụ trên điện thoại cho phép vẽ chữ bằng tay rồi nhận dạng, rất tiện khi đọc bản chụp. Nhưng nên tập tra bằng bộ song song, vì gặp chữ dị thể, chữ viết thảo hay chữ mòn trên văn bia, công cụ nhận dạng thường bó tay, còn người biết bộ thủ vẫn tìm được hướng.
Một buổi ba mươi phút chia thế nào
Năm phút đầu đọc lại sổ: lướt các câu đã ghi hôm trước, nhất là phần chữ quen nghĩa lạ. Mười lăm phút tiếp theo đọc và tự dịch nghĩa một đoạn mới, chỉ vài câu, có tra từ điển. Năm phút sau đó mở bản dịch đã in so với bản của mình, đánh dấu chỗ khác. Năm phút cuối ghi vào sổ những gì mới học được: một hư từ, một khuôn câu, một chữ đổi nghĩa.
Chia như vậy có hai cái lợi. Thứ nhất, ngày nào cũng có ôn, nên chữ không rơi rụng. Thứ hai, ngày nào cũng có đầu ra cụ thể là vài dòng trong sổ, nên bạn thấy mình tiến, dù chậm. Người đi làm thường bỏ không phải vì mệt mà vì không thấy tiến; một cuốn sổ dày dần là thứ giữ chân tốt nhất.
Một học viên làm văn phòng kể rằng tháng đầu chị chỉ đọc được ba bốn câu mỗi buổi và thấy rất chậm. Sang tháng thứ ba, cũng ba mươi phút ấy chị đọc được cả một chương ngắn, vì phần lớn hư từ và khuôn câu đã quen. Tốc độ không tăng đều mà tăng theo bậc, nên đừng đánh giá mình qua mấy tuần đầu.
Lịch luyện mười hai tuần
Mỗi ngày khoảng ba mươi phút. Cột đầu ra cho biết khi nào nên chuyển sang giai đoạn sau.
| Tuần | Nội dung chính | Văn bản luyện | Đầu ra cần có |
|---|---|---|---|
| 1–2 | bộ thủ, cách tra chữ, chi hồ giả dã | mười câu đầu thiên Học nhi | tự tra được chữ trong câu, nhận bốn hư từ |
| 3–4 | chữ nối nhi, dĩ, ư, tắc, sở | phần còn lại thiên Học nhi, thiên Vi chính | phân biệt nhi thuận, nhi nghịch; ư so sánh, ư bị động |
| 5–6 | trật tự từ, câu phán đoán, đảo tân ngữ | chọn đoạn ngắn trong Mạnh Tử | tự dịch nghĩa một đoạn năm sáu câu |
| 7–8 | ngắt câu văn bản không dấu | ngụ ngôn trong Hàn Phi Tử, Lã Thị Xuân Thu | ngắt đúng phần lớn một đoạn, so với bản chấm câu |
| 9–10 | chuyển từ loại, chữ quen nghĩa lạ | đoạn trong Sử ký, Xuất sư biểu | có sổ ghi ít nhất vài chục chữ nghĩa cổ |
| 11–12 | thơ: phiên âm, dịch nghĩa; điển cố | vài bài tứ tuyệt quen thuộc | tự làm dịch nghĩa, chú thích điển cho một bài |
Đầu ra quan trọng hơn số tuần. Chưa đạt đầu ra của giai đoạn trước thì cứ ở lại thêm một hai tuần; nhảy cóc làm phần sau chồng thêm lỗi của phần trước.
Cuốn sổ của người tự học gồm những gì
Sổ là công cụ quan trọng nhất, quan trọng hơn cả từ điển. Nên chia làm bốn phần:
- Hư từ: mỗi chữ một trang, ghi các câu gặp được và chức năng trong từng câu.
- Cấu trúc câu: các khuôn như 者…也, 不亦…乎, 為…所, kèm câu ví dụ.
- Chữ quen nghĩa lạ: chữ, nghĩa cổ, nghĩa nay dễ nhầm, câu gốc.
- Câu tự dịch: nguyên văn, bản dịch của mình, bản dịch đã in, chỗ khác nhau và lý do.
Phần cuối là phần làm bạn tiến nhanh nhất, vì nó buộc bạn so mình với người dịch giỏi hơn và hiểu vì sao họ chọn khác.
Những lý do người tự học hay bỏ dở và cách tránh
Học chữ rời mà không đọc câu. Thuộc hàng trăm chữ mà không đọc câu nào thì không thấy tiến bộ. Từ tuần đầu đã nên đọc câu thật.
Chọn văn bản quá khó. Mở ngay Kinh Thi hay Tả truyện là dễ nản. Luận ngữ, Mạnh Tử, ngụ ngôn chư tử có câu ngắn, ý rõ, hợp cho người mới.
Chỉ đọc bản dịch. Đọc dịch thì dễ chịu nhưng không luyện mắt đọc chữ. Luôn tự dịch trước, đọc bản dịch sau.
Học dồn cuối tuần. Ba mươi phút mỗi ngày giữ được trí nhớ chữ tốt hơn ba tiếng một ngày rồi nghỉ sáu ngày.
Không có người để hỏi. Tìm một nhóm đọc chung, câu lạc bộ Hán Nôm hay lớp buổi tối. Chỉ cần một người đọc lại bản dịch mỗi tuần là đã đỡ đi nhiều lỗi lặp lại.
Không cần làm những việc này lúc đầu
Không cần học viết chữ đẹp bằng bút lông; đọc và viết là hai việc khác nhau, viết đẹp có thể học sau. Không cần học phát âm tiếng Trung hiện đại để đọc văn ngôn; người Việt đọc bằng âm Hán Việt là truyền thống lâu đời và đủ dùng. Không cần mua trọn bộ Tứ thư Ngũ kinh ngay; một cuốn có chú thích tốt dùng được nhiều tháng.
Cũng không cần lo chuyện phồn thể hay giản thể lúc đầu. Văn bản cổ và các bản in nghiêm túc ở Việt Nam chủ yếu dùng chữ phồn thể; học theo đó từ đầu, về sau gặp chữ giản thể sẽ tự nhận ra được phần lớn.
Câu hỏi thường gặp
Tự học đọc văn ngôn mất bao lâu?
Tuỳ thời gian bạn dành và văn bản muốn đọc. Với khoảng ba mươi phút mỗi ngày, sau vài tháng nhiều người đã tự dịch được đoạn ngắn có chú thích; đọc văn bia, gia phả khó hơn và cần thêm thời gian.
Có cần biết tiếng Trung hiện đại để đọc văn ngôn không?
Không bắt buộc. Người Việt có truyền thống đọc văn ngôn bằng âm Hán Việt. Biết tiếng Trung hiện đại có lợi khi dùng sách tham khảo, nhưng cũng dễ mang nghĩa hiện đại áp lên chữ cổ.
Nên dùng từ điển Thiều Chửu hay Đào Duy Anh?
Nên có cả hai vì chúng làm hai việc khác nhau. Thiều Chửu tra từng chữ, nhiều nghĩa cổ; Đào Duy Anh giải nghĩa từ ghép Hán Việt. Đọc văn cổ thì tra chữ trước, tra từ sau.
Người mới nên bắt đầu bằng văn bản nào?
Luận ngữ là lựa chọn phổ biến vì câu ngắn, nhiều hư từ cơ bản và có nhiều bản chú thích. Sau đó đến Mạnh Tử và các ngụ ngôn ngắn trong sách chư tử.
Có nên dùng ứng dụng nhận dạng chữ Hán không?
Nên dùng như công cụ phụ, nhất là khi đọc bản chụp. Nhưng vẫn cần tập tra theo bộ, vì với chữ dị thể, chữ thảo hay chữ mòn trên văn bia, công cụ nhận dạng thường không đọc được.