HocThuatCo.comHọc Thuật Cổ
Gửi thư
Văn học cổ điển Việt Nam

Thể phú: phú cổ thể, phú Đường luật và phú Nôm khác nhau ra sao

Phú là thể văn tả cảnh, kể việc, bàn lẽ bằng câu đối, có vần, nằm giữa thơ và văn xuôi. Bài này phân biệt phú cổ thể với phú Đường luật, giới thiệu vài bài phú tiêu biểu và cách đọc một đoạn phú.

Thể phú: phú cổ thể, phú Đường luật và phú Nôm khác nhau ra sao

Phú là thể văn có vần, dùng câu đối nhau để tả cảnh, kể việc hoặc bàn một lẽ, đứng giữa thơ và văn xuôi. Ở Việt Nam có phú cổ thể khá tự do, phú Đường luật chặt chẽ dùng trong khoa cử, và phú viết bằng chữ Nôm.

Phú ít được đọc hơn thơ và truyện, một phần vì câu dài, nhiều điển cố, lại khó dịch cho giữ nhịp. Nhưng nhiều áng văn đẹp của người Việt xưa thuộc thể này, và hiểu phú còn giúp bạn đọc tốt hơn những thể văn mượn kỹ thuật của nó như văn tế, cáo. Phần dưới đi từ khái niệm tới cách đọc cụ thể.

Phú khác thơ và văn xuôi ở chỗ nào?

Thơ có số chữ mỗi câu và số câu khá cố định. Văn xuôi không bị ràng buộc vần và đối. Phú nằm ở giữa: câu dài ngắn khác nhau, có thể bốn chữ, sáu chữ hay dài hơn nhiều, nhưng phần lớn được tổ chức thành cặp đối, và có gieo vần ở cuối những vế nhất định.

Về nội dung, phú thiên về trải rộng: tả một dòng sông, một cảnh sống, một vật, rồi từ đó bàn ra một ý lớn. Phú thường có lối mở bài đối đáp, chẳng hạn một nhân vật khách hỏi, một nhân vật khác trả lời, để có cớ triển khai. Đây là đặc điểm dễ nhận ra nhất của phú cổ thể.

Phú cổ thể và phú Đường luật khác nhau thế nào?

Hai loại phú dùng chung lối câu đối và có vần, nhưng mức ràng buộc rất khác nhau.

Tiêu chíPhú cổ thểPhú Đường luật
Ràng buộc vầnCó vần nhưng có thể đổi vần qua các đoạn khá tự doChặt hơn; trong thi cử thường có quy định về vần phải dùng
ĐốiCó đối nhưng xen nhiều câu không đốiHầu hết các câu đều đối, có quy định bằng trắc
Bố cụcLinh hoạt, hay dùng đối đáp chủ kháchTheo khuôn có các đoạn mở, giải thích, bàn rộng, kết
Dùng ở đâuVăn chương sáng tác, bày tỏ chí hướngLà một môn trong khoa cử thời trung đại, cũng dùng để sáng tác
Cảm giác khi đọcPhóng khoáng, nhiều giọng nóiCân đối, đều đặn, đòi hỏi tài chọn chữ

Muốn biết chính xác một kỳ thi xưa ra đề phú với yêu cầu gì, bạn cần tra tài liệu về khoa cử của triều đại đó. Quy định thay đổi theo thời, không nên lấy một khuôn chung áp cho mọi khoa.

Trong phú có những loại câu nào?

Tên gọi các loại câu do người xưa đặt để dạy cách làm phú. Biết tên giúp bạn nhận ra cấu trúc khi đọc chứ không cần thuộc làm gì.

Câu ngắn bốn chữ

Hai vế mỗi vế bốn chữ, đối nhau gọn. Loại câu này thường mở đoạn hoặc chuyển ý, tạo nhịp chắc.

Câu song quan

Hai vế đối nhau, mỗi vế là một mạch liền không chia đoạn, thường dài hơn câu bốn chữ. Đọc lên nghe như hai cánh cửa khép đối xứng.

Câu cách cú

Mỗi vế chia thành hai đoạn, một đoạn ngắn một đoạn dài. Đoạn ngắn vế trên đối đoạn ngắn vế dưới, đoạn dài đối đoạn dài, nghĩa là đối cách quãng chứ không đối liền. Muốn ngắt cho đúng, bạn phải nhận ra chỗ đoạn ngắn kết thúc.

Câu gối hạc

Mỗi vế có từ ba đoạn trở lên, các đoạn tương ứng đối nhau. Đây là loại câu dài nhất, thường dùng ở chỗ cần dồn ý hoặc kể nhiều sự việc.

Bạch Đằng giang phú nên đọc ra sao?

Bài phú về sông Bạch Đằng của Trương Hán Siêu, người thời Trần, là ví dụ tiêu biểu của phú cổ thể viết bằng chữ Hán. Bài mở bằng hình ảnh một người khách thích ngao du, đi qua nhiều danh thắng rồi tới khúc sông Bạch Đằng, nơi từng diễn ra những trận thủy chiến lớn.

Cấu trúc chủ khách thể hiện rõ: khách hỏi về chuyện xưa, các bô lão ven sông kể lại trận đánh, rồi khách cảm khái và các bô lão đáp lời. Mỗi giọng nói là một lớp: lớp cảnh, lớp kể chiến công, lớp suy ngẫm. Cuối bài là ý quen thuộc mà các bản dịch đều giữ: thắng lợi không chỉ nhờ hiểm yếu của sông núi mà còn nhờ đức của người cầm quyền.

Khi đọc, bạn nên vẽ ra giấy ai đang nói ở đoạn nào. Người mới đọc thường lẫn lời khách với lời bô lão, nên hiểu sai thái độ của tác giả. Đó cũng là cái khó chung của phú có đối đáp: quan điểm của tác giả thường nằm ở sự sắp đặt các giọng, không nằm ở một câu tuyên bố.

Phú Nôm có gì riêng?

Đưa tiếng Việt vào khuôn đối. Người viết phú Nôm phải tìm từ tiếng Việt đối nhau về loại và thanh, nhiều khi kết hợp từ Hán Việt với từ thuần Việt. Đọc phú Nôm, bạn thấy rõ tiếng Việt đã được rèn để chịu được những khuôn khắt khe.

Đề tài gần đời sống hơn. Bên cạnh đề tài lớn, phú Nôm có những bài nói chuyện riêng, chuyện nghèo, chuyện cảnh. Bài Hàn nho phong vị phú, thường được ghi là của Nguyễn Công Trứ, tả cái nghèo của nhà nho bằng giọng vừa cười vừa thương.

Giọng trào lộng có chỗ đứng. Lối đối cân xứng, khi đặt vào chuyện nhỏ nhặt đời thường, dễ sinh tiếng cười. Đây là điểm phú Nôm khác hẳn vẻ trang nghiêm của phú chữ Hán thời đầu.

Văn bản dễ có dị bản. Nhiều bài phú Nôm truyền chép tay và truyền miệng, nên câu chữ giữa các bản có thể khác nhau. Khi trích dẫn, hãy ghi rõ bản bạn dùng.

Vì sao người học thời xưa phải tập làm phú?

Phú là bài tập tổng hợp của người đi học thời khoa cử. Muốn làm được một bài phú, người học phải có vốn chữ rộng để tìm cặp đối, nắm điển cố để dẫn cho trúng, hiểu bằng trắc để câu đọc lên êm, và có ý để cả bài không chỉ là chuỗi câu đẹp rời nhau. Vì thế phú vừa là thước đo học vấn vừa là thước đo tay nghề chữ nghĩa.

Hiểu điều này, bạn sẽ đọc phú với kỳ vọng đúng. Đừng tìm ở phú cái cảm xúc tức thì như thơ tứ tuyệt; hãy tìm cái công phu của sự sắp đặt, cái thú của việc thấy hai vế ăn khớp nhau như mộng gỗ. Nhiều người đọc phú lần đầu thấy dài và nặng; đọc lần thứ hai, khi đã biết nhìn cặp đối, họ bắt đầu thấy vui.

Đọc một đoạn phú lần đầu: làm theo thứ tự nào?

Thứ tự sau áp dụng được cho cả phú chữ Hán đọc qua phiên âm lẫn phú Nôm.

  1. Đọc to cả đoạn một lượt, chưa cần hiểu hết, chỉ để nghe nơi giọng tự dừng.
  2. Tìm chỗ hai vế gặp nhau: thường là nơi ý lặp lại cấu trúc. Đánh dấu ranh giới vế bằng một gạch chéo.
  3. Trong mỗi vế, xem có chia đoạn ngắn đoạn dài không để biết là câu song quan, cách cú hay gối hạc.
  4. Gạch dưới các cặp từ đối nhau ở cùng vị trí; nhiều khi chính cặp đối cho bạn nghĩa của chữ lạ.
  5. Tra điển cố sau cùng, chỉ những điển cố mà không hiểu thì đoạn văn mất nghĩa.
  6. Viết lại đoạn bằng văn xuôi thường, một hai câu, để chắc mình đã nắm ý.

Lỗi hay gặp là tra từng chữ ngay từ đầu, mất cả buổi mà vẫn không thấy cấu trúc. Việc không cần làm: không cần xác định bằng trắc từng chữ nếu bạn chỉ đọc để hiểu; việc đó dành cho người nghiên cứu luật phú hoặc tập làm phú.

Câu hỏi thường gặp

Phú có phải là thơ không?

Phú không hẳn là thơ cũng không hẳn là văn xuôi. Phú có vần và đối như thơ, nhưng câu dài ngắn tự do hơn và thường triển khai nội dung rộng như văn xuôi.

Bạch Đằng giang phú là của ai?

Bài phú do Trương Hán Siêu, một nhà nho và quan chức thời Trần, viết bằng chữ Hán, lấy cảm hứng từ khúc sông Bạch Đằng nơi diễn ra các trận thủy chiến nổi tiếng.

Phú Đường luật có còn được sáng tác không?

Rất hiếm. Phú Đường luật gắn với khoa cử nên khi khoa cử chấm dứt, thể này chủ yếu còn trong nghiên cứu và trong một số người yêu cổ văn tập làm.

Văn tế có liên quan gì tới phú?

Nhiều bài văn tế mượn kỹ thuật của phú: câu đối nhau, có vần, dùng các loại câu song quan, cách cú. Hiểu phú giúp bạn đọc văn tế dễ hơn.

Người mới nên đọc bài phú nào trước?

Có thể bắt đầu bằng Bạch Đằng giang phú qua một bản có phiên âm, dịch nghĩa và chú thích, vì bài có cốt truyện rõ, nhân vật đối đáp dễ theo dõi.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

🧭
Bạn đang ở chặng nào của đường học vị?
Nhập chỗ bạn đang đứng và đích bạn nhắm — công cụ trả về số năm, chi phí và việc phải làm từng chặng.
Xem lộ trình của tôi →
Miễn phí, không cần tài khoản. Xem tất cả công cụ

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.

hoặc
[email protected]