HocThuatCo.comHọc Thuật Cổ
Gửi thư
Đọc và dịch văn ngôn

Khi danh từ thành động từ: chuyển từ loại khiến câu cổ khó dịch

Trong văn ngôn, chữ áo có thể thành “mặc cho”, chữ già thành “kính trọng người già”, chữ xa thành “xa lánh”. Cách nhận ra một chữ đã đổi từ loại, cách đọc âm đổi và dịch cho đúng.

Khi danh từ thành động từ: chuyển từ loại khiến câu cổ khó dịch

Trong văn ngôn, một chữ có thể đổi từ loại theo vị trí: danh từ đứng chỗ động từ thì hoá động từ, tính từ có tân ngữ thì thành “làm cho” hoặc “coi là”. Nhận ra một chữ đã đổi việc là gỡ được những câu tra đủ nghĩa từng chữ mà vẫn không thông.

Người học văn cổ hay gặp cảm giác này: chữ nào cũng biết, ghép lại không ra câu. Nhiều khi nguyên nhân là một chữ quen đang làm một việc lạ. Sách ngữ pháp gọi đó là hoạt dụng từ loại, tức dùng linh hoạt từ loại. Tiếng Việt cũng có chuyện tương tự, như “cơm nước xong” hay “anh ấy rất Hà Nội”, nên người Việt thật ra có sẵn cảm giác cho hiện tượng này; chỉ cần biết các khuôn cơ bản.

Danh từ đứng ở chỗ của động từ

Áo thành “mặc cho”, cơm thành “cho ăn”

Sử ký chép lời Hàn Tín nhớ ơn Hán vương: 解衣衣我,推食食我 giải y ý ngã, suy thực tự ngã — cởi áo mình mặc cho ta, nhường cơm mình cho ta ăn. Chữ 衣 thứ hai và 食 thứ hai đứng trước tân ngữ 我 nên phải là động từ. Theo lối đọc truyền thống, 衣 dùng làm động từ đọc là ý, 食 với nghĩa cho ăn đọc là tự.

Danh từ đứng sau trợ động từ hoặc chữ phủ định

Danh từ đứng sau 能, 可, 不 hoặc trước 之 làm tân ngữ thì gần như chắc đã thành động từ. Mạnh Tử viết 保民而王 — giữ yên dân mà làm vương (cai trị thiên hạ). Một số từ điển ghi âm riêng cho nghĩa động từ của chữ 王; người đọc phổ thông vẫn thường đọc là vương.

Danh từ chỉ nơi chốn làm động từ

Trong đoạn Tăng Điểm nói chí: 風乎舞雩 phong hồ Vũ Vu — hóng gió ở đàn Vũ Vu. Chữ 風 gió thành “hóng gió”, vì sau nó là giới từ chỉ nơi chốn.

Tính từ và động từ có tân ngữ: “làm cho” và “coi là”

Cách dùng khiến cho

Tính từ đứng trước tân ngữ có thể mang nghĩa làm cho tân ngữ có tính chất ấy. Xuất sư biểu: 親賢臣,遠小人 thân hiền thần, viễn tiểu nhân — gần gũi người hiền tài, xa lánh kẻ tiểu nhân. 親 thân, 遠 viễn vốn là tính từ, ở đây là “làm cho gần”, “làm cho xa”. Động từ nội động cũng vậy: Trương Lương nói về Hạng Bá 項伯殺人,臣活之 Hạng Bá sát nhân, thần hoạt chi — Hạng Bá giết người, thần cứu sống ông ấy; 活 là “làm cho sống”.

Cách dùng coi là

Mạnh Tử viết 老吾老以及人之老,幼吾幼以及人之幼 lão ngô lão dĩ cập nhân chi lão, ấu ngô ấu dĩ cập nhân chi ấu — kính người già nhà mình rồi lan tới người già nhà người, thương trẻ nhỏ nhà mình rồi lan tới trẻ nhỏ nhà người. Chữ 老 đầu là động từ: coi là bậc già mà kính; chữ 老 sau là danh từ: người già.

Danh từ đứng trước động từ làm trạng ngữ

Danh từ đặt ngay trước động từ, không làm chủ ngữ, thường chỉ cách thức “như là” hoặc phương tiện. Tả truyện có câu 豕人立而啼 thỉ nhân lập nhi đề — con lợn đứng lên như người mà kêu. Chữ 人 không phải chủ ngữ, vì chủ ngữ đã là 豕; nó bổ nghĩa cho 立.

Mẫu này dễ lẫn với câu có hai chủ ngữ. Cách thử: bỏ danh từ đó đi, nếu câu vẫn đủ chủ ngữ và động từ thì danh từ ấy là trạng ngữ. Khi dịch, thêm chữ “như”, “bằng”, “theo” cho rõ.

Vì sao văn ngôn đổi từ loại dễ như vậy

Lý do nằm ở chính bản chất của chữ Hán cổ. Mỗi chữ là một âm tiết, không biến đổi hình thức khi đổi chức năng; tiếng Anh thêm đuôi để biến danh từ thành động từ, văn ngôn thì không có đuôi nào để thêm. Vì vậy một chữ chỉ cần đổi chỗ đứng là đổi việc. Thêm nữa, văn ngôn chuộng ngắn gọn: thay vì viết “cho mặc áo”, người viết dùng luôn chữ áo làm động từ, đỡ được một chữ mà câu vẫn đủ ý với người cùng thời.

Với người đọc nay, sự ngắn gọn ấy là cái giá phải trả. Bạn không thể dựa vào hình thức chữ để biết từ loại, chỉ có thể dựa vào vị trí và quan hệ với các chữ xung quanh. Đó là lý do mọi sách ngữ pháp văn ngôn đều dạy đọc theo cấu trúc câu chứ không dạy đọc theo từng chữ.

Ba cách dịch một chữ đã đổi từ loại

Tìm một động từ tiếng Việt tương ứng

Cách gọn nhất. 遠 thành xa lánh, 活 thành cứu sống, 風 thành hóng gió. Khi tiếng Việt có sẵn một động từ đúng nghĩa, hãy dùng nó.

Thêm động từ chung như làm cho, coi là

Khi không có động từ sẵn, thêm làm cho, khiến cho, coi như. Cách này rõ nhưng dễ nặng câu; dùng tiết kiệm, nhất là trong văn dịch đọc thành tiếng.

Diễn giải cả cụm

Với câu như 老吾老, dịch từng chữ sẽ thành kính già cái già của ta, rất khó nghe. Diễn giải thành kính người già nhà mình thì tự nhiên và vẫn sát nghĩa. Chỉ diễn giải khi hai cách trên không ổn, và giữ đúng phạm vi nghĩa của nguyên văn.

Bảng nhận diện các kiểu chuyển từ loại

Bảng dưới đặt dấu hiệu vị trí cạnh từng kiểu, vì vị trí là thứ duy nhất báo cho bạn biết chữ đã đổi việc.

KiểuDấu hiệu vị tríVí dụNghĩa gốcNghĩa trong câu
Danh từ làm động từdanh từ trước tân ngữ衣我áomặc cho ta
Danh từ làm động từdanh từ trước giới từ chỉ chốn風乎舞雩gióhóng gió
Khiến cho (tính từ)tính từ trước tân ngữ遠小人xalàm cho xa, xa lánh
Khiến cho (động từ nội động)động từ không cần tân ngữ lại có tân ngữ活之sốngcứu sống
Coi làtính từ, danh từ trước tân ngữ chỉ người老吾老giàkính như bậc già
Danh từ làm trạng ngữdanh từ ngay trước động từ, câu đã có chủ ngữ人立ngườiđứng như người

Tình huống: một học viên dịch “cởi áo áo ta”

Trong một lớp Hán văn buổi tối dành cho người đi làm, một học viên ngoài năm mươi tuổi dịch câu 解衣衣我 thành “cởi áo, áo ta”. Bạn ấy tra đúng nghĩa từng chữ, chỉ không ngờ chữ thứ hai đã thành động từ. Giáo viên không chữa ngay mà hỏi: trong câu này động từ nào có tân ngữ là 我? Học viên nhìn lại và nhận ra phải là chữ 衣 thứ hai, vì 解 đã có tân ngữ của nó.

Câu hỏi đó đáng thành thói quen: mỗi tân ngữ phải có một động từ đi kèm. Nếu chỗ đứng trước tân ngữ là một danh từ hay tính từ, khả năng cao là chữ ấy đang làm động từ.

Những điều không nên làm khi gặp chữ đổi từ loại

Không nên lấy nghĩa động từ của tiếng Hán hiện đại. Nhiều chữ nay có nghĩa động từ khác hẳn nghĩa cổ; chỉ tin chú giải cho văn bản cổ.

Không nên dịch quá tay. Chữ 遠 là xa lánh, không cần thêm “ghét bỏ, trừ khử”. Giữ đúng mức nghĩa của nguyên văn.

Không nên bỏ qua âm đọc đổi. Khi lối đọc truyền thống có âm riêng cho nghĩa động từ, đọc đúng âm giúp bạn và người nghe hiểu ngay chữ đã đổi việc.

Không nên coi mọi danh từ đứng trước động từ là trạng ngữ. Phải kiểm câu đã có chủ ngữ hay chưa; nếu chưa, danh từ ấy chính là chủ ngữ.

Câu hỏi thường gặp

Hoạt dụng từ loại là gì?

Là hiện tượng một chữ trong văn ngôn đổi chức năng theo vị trí, như danh từ dùng làm động từ, tính từ dùng với nghĩa làm cho hoặc coi là. Văn ngôn không biến hình nên vị trí là dấu hiệu chính.

Vì sao 衣 đọc là ý khi làm động từ?

Theo lối đọc truyền thống, nhiều chữ có âm riêng cho nghĩa động từ để phân biệt với nghĩa danh từ. Chữ áo khi mang nghĩa mặc, mặc cho được ghi âm ý trong các từ điển Hán Việt cũ.

Làm sao phân biệt cách dùng khiến cho và coi là?

Khiến cho là làm cho tân ngữ có tính chất đó trên thực tế, như làm cho sống. Coi là chỉ là thái độ, cách nhìn của chủ ngữ với tân ngữ, như coi là bậc già mà kính.

Tiếng Việt có hiện tượng chuyển từ loại không?

Có, và khá nhiều trong khẩu ngữ, như cơm nước xong hay rất Hà Nội. Vì vậy người Việt thường nắm hoạt dụng từ loại trong văn ngôn nhanh hơn người học từ ngôn ngữ biến hình.

Có cần học thuộc danh sách chữ hay đổi từ loại không?

Không cần. Nên học các khuôn vị trí và gặp chữ nào thì ghi chữ đó vào sổ kèm câu gốc. Sau vài tháng đọc, danh sách tự nhiên sẽ đầy.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

🧭
Bạn đang ở chặng nào của đường học vị?
Nhập chỗ bạn đang đứng và đích bạn nhắm — công cụ trả về số năm, chi phí và việc phải làm từng chặng.
Xem lộ trình của tôi →
Miễn phí, không cần tài khoản. Xem tất cả công cụ

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.

hoặc
[email protected]