Chữ Hán có năm thể chính: triện, lệ, khải, hành, thảo. Người mới chỉ đọc được ngay chữ khải, thể của sách in và phần lớn văn bia. Chữ triện gặp trên con dấu, chữ lệ trên một số bia và hoành phi, còn chữ hành, chữ thảo nằm trong giấy tờ viết tay.
Nhiều người học chữ Hán vài tháng, tự tin đọc được sách in, rồi đứng trước con dấu đỏ trên sắc phong hay tờ văn tự mua ruộng thì không nhận ra chữ nào. Không phải họ học chưa đủ chữ, mà là họ đang nhìn một thể chữ khác. Nhận đúng thể chữ trước sẽ biết mình cần học thêm cái gì.
Năm thể trong một bảng
Bảng dưới đây gom đặc điểm nhận biết của từng thể và nơi hay gặp trong di sản Việt Nam. Mốc thời gian chỉ là khoảng phổ biến, các thể chồng lấn nhau rất lâu:
| Thể | Thời phổ biến | Đặc điểm nhận biết | Hay gặp ở Việt Nam | Người mới đọc được không |
|---|---|---|---|---|
| Triện | trước và trong đời Tần | nét đều, cong, tròn trịa, chữ cao | con dấu, ấn, đầu đề một số bia | không, cần bảng đối chiếu |
| Lệ | đời Hán | chữ dẹt, nét ngang có đầu tằm đuôi nhạn | một số bia, hoành phi, câu đối | phần lớn đọc được sau ít ngày làm quen |
| Khải | định hình khoảng Nguỵ Tấn tới Đường | vuông vức, nét rời, rõ từng nét | sách mộc bản, văn bia, sắc phong | có, đây là thể học trước |
| Hành | song song với khải | nét nối vừa phải, vẫn thấy khung chữ | gia phả chép tay, thư từ, đơn từ | cần luyện thêm |
| Thảo | xuất hiện từ đời Hán, phát triển về sau | nét liền, giản lược mạnh, nhiều chữ chỉ còn vài đường | văn tự, bản nháp, thư pháp | không, cần học riêng |
Chữ triện: trên con dấu và đầu bia
Nhận biết
Chữ triện có nét đều nhau, không đậm nhạt, nhiều đường cong và góc tròn. Chữ thường cao hơn rộng, cân đối đối xứng. Tiểu triện là dạng được thống nhất dưới đời Tần, còn những dạng cổ hơn trên đồ đồng thường gọi chung là đại triện hay kim văn.
Gặp ở đâu
Ở Việt Nam, chữ triện gặp nhiều nhất trên con dấu, ấn của triều đình và quan lại đóng trên sắc phong, chiếu, lệnh, cũng như dấu riêng của cá nhân. Chính tên gọi ấn triện cho thấy mối gắn bó ấy. Một số bia có dòng tiêu đề ở trán bia khắc bằng chữ triện cho trang trọng.
Chữ trên dấu thường được biến dạng thêm cho vừa khuôn vuông, nên ngay cả người đọc triện cũng phải đối chiếu từ điển chữ triện. Người mới không cần đọc dấu; ghi lại vị trí, hình dạng và màu mực là đủ.
Chữ lệ: dẹt, có đuôi nhạn
Chữ lệ phổ biến vào đời Hán, là bước chuyển từ triện sang khải. Dấu hiệu dễ thấy nhất là chữ dẹt, rộng hơn cao, nét ngang dài có đầu bút tròn như đầu con tằm và cuối nét vểnh lên như đuôi chim nhạn, thường gọi là tàm đầu yến vĩ. Nét mác cũng kéo dài và vểnh lên.
Vì cấu trúc chữ lệ đã gần với khải, người đọc được khải thường làm quen với lệ khá nhanh. Ở Việt Nam, chữ lệ hay xuất hiện trên hoành phi, câu đối và một số bia, nơi người viết muốn tạo vẻ cổ kính, trang nghiêm. Gặp chữ lạ trong thể lệ, hãy thử hình dung nó vuông lại thành khải.
Chữ khải: thể chuẩn để học và để in
Chữ khải, còn gọi là chân thư hay chính thư, là thể vuông vức, nét rời, mỗi nét rõ đầu rõ cuối. Đây là thể chữ của sách in mộc bản, của phần lớn văn bia, của sắc phong và văn bản hành chính trang trọng. Cũng là thể của mọi từ điển và giáo trình hiện nay.
Mọi việc học chữ Hán nên bắt đầu từ khải: học nét, học thứ tự viết, học bộ thủ đều trên chữ khải. Khi đã chắc khải, việc chuyển sang các thể khác là học thêm quy luật biến đổi, chứ không phải học lại chữ từ đầu.
Chữ hành và chữ thảo: chữ của tay viết nhanh
Chữ hành
Chữ hành là khải viết nhanh: các nét trong một chữ được nối với nhau bằng những đường mảnh, một số nét gộp lại, nhưng khung chữ vẫn nhận ra được. Đây là thể phổ biến trong chữ viết tay thường ngày của người xưa: thư từ, ghi chép, gia phả chép tay, đơn từ. Người đọc thạo khải, biết thứ tự viết, có thể tập đọc hành sau một thời gian.
Chữ thảo
Chữ thảo đi xa hơn nhiều: chữ giản lược tới mức chỉ còn vài đường liền, bộ thủ biến thành ký hiệu quy ước, nhiều chữ khác nhau có hình gần giống nhau. Chữ thảo không đoán được từ khải; phải học các quy ước giản lược riêng, thường bằng bảng đối chiếu hoặc từ điển chữ thảo.
Trong văn bản hành chính, chữ thảo ít dùng vì khó đọc. Nhưng văn tự mua bán, bản nháp, sổ sách tư nhân và thư pháp thì gặp nhiều. Đây là lý do một tờ văn tự đất đai cũ thường khó đọc hơn hẳn một tấm bia cùng thời.
Một văn bản có thể chứa nhiều thể chữ
Ít khi một tờ giấy cổ chỉ có một thể chữ. Một đạo sắc phong thường có thân văn viết khải chuẩn mực, ngay ngắn, kèm con dấu đỏ khắc chữ triện đóng ở chỗ ghi niên hiệu. Người đọc được khải sẽ đọc trọn nội dung, chỉ phải để lại phần dấu cho người chuyên đọc ấn.
Một cuốn gia phả chép tay có thể có lời tựa viết hành khá phóng khoáng, còn phần thế thứ, tên tuổi, ngày giỗ lại viết khải cẩn thận vì cần rõ ràng. Nhiều đôi câu đối trong đình làng, nhà thờ họ được viết bằng lệ hoặc hành, có khi bằng thảo, vì người viết muốn khoe nét bút; cùng một nội dung, bản khắc ở nơi này có thể khác thể chữ với bản ở nơi khác.
Vì thế, khi bắt đầu một văn bản, hãy chia nó thành từng vùng: vùng nào khải thì đọc trước, vùng nào hành thì để sau, vùng nào triện hay thảo thì đánh dấu để hỏi hoặc tra chuyên sâu. Cách chia vùng giúp bạn đọc được phần lớn nội dung ngay, không bị một con dấu hay một dòng chữ thảo làm chùn tay.
Bắt đầu đọc chữ hành, chữ thảo thế nào?
Khi đã đọc khải tương đối vững, có thể chuyển dần sang chữ viết tay theo trình tự sau:
- Chắc thứ tự viết của chữ khải, vì đường nối trong chữ hành, chữ thảo đi theo đúng thứ tự ấy.
- Bắt đầu với chữ hành rõ nét trong văn bản có bản phiên âm đáng tin để đối chiếu.
- Học các dạng giản lược của bộ thủ hay gặp, theo bộ trước, theo chữ sau.
- Lập bảng riêng những chữ thảo đã gặp, đặt cạnh dạng khải tương ứng.
- Dựa vào văn cảnh và loại văn bản: văn tự mua bán có nhiều cụm cố định, đoán được cụm thì đoán được chữ.
- Chỗ không chắc thì để trống và ghi chú, đừng ép chữ cho trơn câu.
Đọc chữ thảo là việc cần nhiều thời gian, ngay cả người làm nghề lâu năm vẫn có lúc phải tra và hỏi nhau. Không cần nóng vội; cứ đọc được nhiều hành rồi mới sang thảo.
Tự kiểm khi đứng trước một văn bản
Trước khi bắt tay đọc, hãy trả lời nhanh mấy câu sau để biết mình đang đối mặt với cái gì:
- Chữ vuông, nét rời, rõ từng nét? Đó là khải, đọc được ngay.
- Chữ dẹt, nét ngang vểnh đuôi? Đó là lệ, đọc được sau ít ngày làm quen.
- Nét đều, cong tròn, nằm trong khung con dấu? Đó là triện, ghi lại và tra sau.
- Nét nối nhau nhưng vẫn thấy khung chữ? Đó là hành, cần luyện thêm.
- Chữ chỉ còn vài đường liền, khó tách nét? Đó là thảo, cần bảng đối chiếu hoặc người hướng dẫn.
Câu hỏi thường gặp
Người mới học chữ Hán nên học thể nào trước?
Nên học chữ khải trước. Đây là thể của sách in, từ điển và phần lớn văn bia, sắc phong. Nắm vững khải và thứ tự viết rồi mới chuyển sang lệ, hành, thảo, còn triện thì học khi thật sự cần đọc con dấu.
Vì sao con dấu trên sắc phong lại khó đọc?
Vì con dấu thường khắc bằng chữ triện, một thể chữ cổ có hình dạng khác hẳn chữ khải, lại được biến dạng cho vừa khuôn dấu. Muốn đọc phải dùng từ điển chữ triện để đối chiếu.
Chữ hành và chữ thảo khác nhau thế nào?
Chữ hành là khải viết nhanh, nét nối nhưng vẫn thấy khung chữ. Chữ thảo giản lược mạnh hơn nhiều, nhiều chữ chỉ còn vài đường liền theo quy ước riêng, không đoán được từ khải mà phải học.
Tàm đầu yến vĩ là gì?
Đó là cách gọi đặc điểm nét ngang của chữ lệ: đầu nét tròn như đầu con tằm, cuối nét vểnh lên như đuôi chim nhạn. Nhìn thấy đặc điểm này là nhận ra chữ lệ.
Văn tự mua bán đất cũ thường viết bằng thể nào?
Thường là chữ hành, có khi pha chữ thảo, vì là giấy tờ viết tay. Vì vậy văn tự cũ hay khó đọc hơn văn bia cùng thời. Nên đọc cùng người có kinh nghiệm hoặc đối chiếu với văn tự cùng loại.