Song thất lục bát là thể thơ gồm khổ bốn câu: hai câu bảy chữ, một câu sáu và một câu tám, gieo cả vần chân lẫn vần lưng. Thể này là khuôn của các khúc ngâm nổi tiếng như Chinh phụ ngâm bản Nôm và Cung oán ngâm khúc.
Nhiều người đọc khúc ngâm như đọc truyện thơ lục bát, nên thấy chậm và buồn mà không rõ vì sao. Cái buồn ấy được dựng bằng kỹ thuật: câu bảy chữ ngắt nhịp lẻ, vần trắc chen vần bằng, khổ thơ khép mở như hơi thở. Bài này chỉ cách nghe kỹ thuật đó qua chính những câu mở đầu quen thuộc.
Một khổ song thất lục bát gieo vần ở đâu?
Lấy khổ đầu bản Nôm Chinh phụ ngâm làm mẫu. Bảng ghi vị trí chữ mang vần và thanh của chúng.
| Câu | Câu thơ | Chữ mang vần | Ghi chú |
|---|---|---|---|
| Bảy thứ nhất | Thuở trời đất nổi cơn gió bụi | bụi (chữ thứ 7) | Vần trắc |
| Bảy thứ hai | Khách má hồng nhiều nỗi truân chuyên | nỗi (chữ thứ 5) vần với bụi; chuyên (chữ thứ 7) | Vần lưng trắc, chữ cuối là thanh bằng |
| Sáu | Xanh kia thăm thẳm từng trên | trên (chữ thứ 6) vần với chuyên | Vần chân bằng |
| Tám | Vì ai gây dựng cho nên nỗi này | nên (chữ thứ 6) vần với trên; này (chữ thứ 8) | Chữ cuối mở vần cho khổ sau |
Câu đầu khổ tiếp theo là Trống Tràng Thành lung lay bóng nguyệt. Chữ thứ năm là lay, vần với này ở cuối câu tám. Như vậy các khổ được móc nối với nhau bằng vần, đọc liền một hơi không đứt.
Quy luật vắn tắt: chữ cuối câu bảy đầu vần với chữ thứ năm câu bảy sau (vần trắc); chữ cuối câu bảy sau vần với chữ cuối câu sáu (vần bằng); chữ cuối câu sáu vần với chữ thứ sáu câu tám; chữ cuối câu tám vần với chữ thứ năm câu bảy đầu khổ sau.
Nhịp đọc khác lục bát ra sao?
Câu bảy chữ ngắt ba bốn
Hai câu bảy chữ thường ngắt nhịp ba trước bốn sau: Thuở trời đất / nổi cơn gió bụi; Khách má hồng / nhiều nỗi truân chuyên. Nhịp lẻ đứng trước tạo cảm giác hẫng, như người nói ngập ngừng trước khi tuôn ra. Đây là điểm khác cơ bản so với thơ thất ngôn Đường luật, vốn thường ngắt bốn ba.
Cặp lục bát kéo dài hơi
Sau hai câu bảy dồn dập, cặp lục bát trở về nhịp chẵn quen thuộc, êm và dài. Mỗi khổ như vậy có một nhịp thắt rồi mở. Cả khúc ngâm hàng trăm câu lặp lại nhịp này, tạo ra tiếng than kéo dài mà không đơn điệu.
Thanh trắc ở cuối câu bảy đầu
Câu bảy đầu thường kết bằng thanh trắc, câu bảy sau kết bằng thanh bằng. Đọc to, bạn sẽ nghe giọng đi xuống rồi đi lên, như một tiếng nấc rồi một tiếng thở. Ngâm theo lối truyền thống, người ngâm kéo dài những chữ này.
Ngâm khúc là thể loại gì?
Ngâm khúc là những tác phẩm trữ tình khá dài, thường viết bằng song thất lục bát, diễn tả tâm trạng buồn thương, nhớ nhung, oán hận của một nhân vật, phần lớn là người phụ nữ. Nhân vật tự nói về mình, không có cốt truyện nhiều tình tiết như truyện thơ. Toàn bộ sức nặng nằm ở dòng tâm trạng.
Vì thế cách đọc ngâm khúc khác cách đọc truyện. Đừng chờ sự kiện. Hãy theo dõi sự chuyển của tâm trạng: từ nhớ sang lo, từ lo sang trách, từ trách sang tự an ủi. Mỗi lần tâm trạng đổi là một chặng của bài.
Chinh phụ ngâm và Cung oán ngâm khúc khác nhau thế nào?
Hai khúc ngâm thường được học cạnh nhau. So sánh vài điểm cơ bản giúp bạn khỏi lẫn.
| Điểm so sánh | Chinh phụ ngâm | Cung oán ngâm khúc |
|---|---|---|
| Nguyên tác | Đặng Trần Côn viết bằng chữ Hán, thể trường đoản cú | Nguyễn Gia Thiều viết thẳng bằng chữ Nôm |
| Bản Nôm | Bản diễn Nôm phổ biến tương truyền của Đoàn Thị Điểm; có ý kiến cho là của Phan Huy Ích | Chính là nguyên tác |
| Nhân vật | Người vợ có chồng đi đánh trận | Người cung nữ bị vua ruồng bỏ |
| Tâm trạng chủ đạo | Nhớ chồng, lo âu, cô đơn, mong đoàn tụ | Oán hận, chua xót, suy ngẫm về kiếp người |
| Ngôn ngữ | Mềm, nhiều điệp ngữ, hình ảnh thiên nhiên | Nhiều từ Hán Việt, điển cố, chữ dùng cầu kỳ |
Về người dịch bản Nôm Chinh phụ ngâm, giới nghiên cứu chưa thống nhất hoàn toàn. Khi viết bài, cách an toàn là ghi bản dịch tương truyền của Đoàn Thị Điểm và nhắc có ý kiến khác.
Điệp ngữ vắt dòng trong Chinh phụ ngâm làm việc gì?
Bản Nôm Chinh phụ ngâm nổi tiếng với lối lặp chữ nối câu, chữ cuối câu trước trở thành chữ đầu câu sau. Đoạn quen thuộc: Cùng trông lại mà cùng chẳng thấy, / Thấy xanh xanh những mấy ngàn dâu. / Ngàn dâu xanh ngắt một màu, / Lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai? Chữ thấy và cụm ngàn dâu được bắt lại ở đầu câu kế tiếp, như ánh mắt người vợ cứ lần theo một vệt nhìn mà không tới được nơi nào.
Kỹ thuật này hợp với song thất lục bát vì thể thơ vốn đã móc nối bằng vần lưng. Lặp chữ cộng với móc vần làm khổ thơ liền như một sợi chỉ. Khi phân tích, đừng chỉ ghi là có điệp ngữ; hãy nói điệp ngữ ấy diễn tả điều gì của tâm trạng, ở đây là cái nhìn vô vọng kéo dài.
Một cặp câu khác cũng hay được dẫn: Chàng thì đi cõi xa mưa gió, / Thiếp thì về buồng cũ gối chăn. Hai vế đối nhau từng vị trí, chàng đối thiếp, đi đối về, cõi xa đối buồng cũ, mưa gió đối gối chăn. Như vậy khúc ngâm thuần Việt vẫn giữ lối đối của văn chương chữ Hán, chỉ là đối bằng chữ của đời thường.
Câu mở Cung oán ngâm khúc cho thấy gì về lối dùng chữ?
Khúc ngâm mở bằng hai câu: Trải vách quế gió vàng hiu hắt, / Mảnh vũ y lạnh ngắt như đồng. Chỉ hai câu đã có ba hình ảnh mượn chữ Hán: vách quế là cung điện, gió vàng là gió thu theo cách nói của ngũ hành, vũ y là áo múa. Người đọc phải mở được từng lớp chữ mới thấy cái lạnh của cung cấm.
Đây là lý do Cung oán ngâm khúc được coi là khó đọc hơn Chinh phụ ngâm bản Nôm. Một bản có chú thích kỹ là điều kiện cần. Nếu bạn đọc để giảng dạy, nên chọn vài đoạn ngắn và chú thích kỹ hơn là đọc lướt cả bài.
Cách tự đọc một khúc ngâm trong một tuần
Với người yêu cổ văn không có thời gian dài, chia nhỏ như sau giúp đọc trọn mà không nản.
- Ngày một: đọc to vài khổ đầu, đánh dấu vần lưng và vần chân như bảng mẫu cho quen tai.
- Ngày hai đến bốn: mỗi ngày một phần, ghi một dòng về tâm trạng chủ đạo của phần ấy.
- Ngày năm: đọc lại các dòng ghi, vẽ đường đi của tâm trạng từ đầu đến cuối.
- Ngày sáu: chọn ba khổ thích nhất, tra kỹ từng điển cố trong đó.
- Ngày bảy: nghe một bản ngâm truyền thống nếu có dịp, đối chiếu chỗ người ngâm kéo dài với chỗ thanh trắc, thanh bằng.
Lỗi hay gặp là đọc khúc ngâm bằng giọng đọc truyện, đều đều. Việc không cần làm: không cần đếm chữ từng câu để kiểm tra luật; các bản đã được hiệu đính, bạn chỉ cần nghe nhịp.
Câu hỏi thường gặp
Song thất lục bát có phải thể thơ của người Việt không?
Đúng vậy, song thất lục bát được xem là thể thơ dân tộc, kết hợp câu bảy chữ với cặp lục bát, gieo cả vần lưng và vần chân theo cách riêng của tiếng Việt.
Chinh phụ ngâm nguyên bản viết bằng chữ gì?
Nguyên tác của Đặng Trần Côn viết bằng chữ Hán theo thể trường đoản cú. Bản phổ biến hiện nay là bản diễn Nôm bằng song thất lục bát.
Ai dịch Chinh phụ ngâm sang chữ Nôm?
Bản dịch phổ biến tương truyền của Đoàn Thị Điểm, nhưng có ý kiến cho rằng người dịch là Phan Huy Ích. Vấn đề này chưa ngã ngũ hoàn toàn.
Vì sao câu bảy chữ trong song thất ngắt nhịp ba bốn?
Nhịp ba bốn khác với nhịp bốn ba của thơ Đường, tạo cảm giác ngập ngừng rồi tuôn chảy, rất hợp với giọng than thở của khúc ngâm.
Ngoài hai khúc ngâm nổi tiếng còn tác phẩm nào?
Còn một số khúc ngâm khác cùng thể song thất lục bát, như Ai tư vãn tương truyền của Lê Ngọc Hân, hay nhiều bài vãn, bài ngâm của các tác giả về sau.