Bốn nhà ít được nhắc là Âm dương gia (giải thích vũ trụ và lịch sử bằng âm dương, ngũ hành), Tung hoành gia (nghề du thuyết ngoại giao), Nông gia (người cai trị cũng phải cày) và Tạp gia (gom ý nhiều nhà). Văn bản riêng của họ còn rất ít, phần lớn chỉ biết qua sách người khác.
Sách giáo khoa và bài giảng phổ thông thường dừng ở Nho, Mặc, Đạo, Pháp. Nhưng bốn nhà còn lại để dấu vết khá sâu, kể cả trong tiếng Việt: chữ “tung hoành”, thành ngữ “nhất tự thiên kim”, quan niệm ngũ hành tương sinh tương khắc. Biết họ là ai giúp bạn đọc các sách lớn kỹ hơn, vì các sách ấy thường nhắc hoặc phản bác họ.
Âm dương gia và Trâu Diễn
Họ là ai
Nhân vật tiêu biểu là Trâu Diễn người nước Tề, hoạt động ở học cung Tắc Hạ, sống sau Mạnh Tử. Sách của ông đã mất; những gì ta biết đến chủ yếu từ Sử ký, thiên liệt truyện Mạnh Tử, Tuân Khanh. Tư Mã Thiên chép rằng ông được vua chúa các nước trọng đãi hơn cả Mạnh Tử.
Thuyết ngũ đức chung thủy
Trâu Diễn ghép âm dương với ngũ hành (kim, mộc, thủy, hỏa, thổ) thành một hệ thống giải thích sự thay đổi của các triều đại: mỗi triều ứng với một đức, đức sau thắng đức trước theo thứ tự tương khắc, rồi vòng lại. Thuyết này về sau ảnh hưởng tới việc các triều đại chọn màu áo, sắc cờ, lịch chính thức. Ông còn có thuyết đại cửu châu: Trung Hoa chỉ là một châu nhỏ trong chín châu lớn của thiên hạ.
Đọc như lịch sử tư tưởng
Ở đây ta đọc Âm dương gia như một nỗ lực xây dựng vũ trụ luận của người Chiến Quốc, ảnh hưởng tới cách đời Hán sắp xếp tri thức. Những ứng dụng bói toán, xem ngày của đời sau là chuyện khác, nằm ngoài phạm vi bài này. Cũng nên biết rằng ngũ hành trong Kinh Thư, thiên Hồng phạm, vốn chỉ năm loại vật chất và công dụng của chúng; việc gắn ngũ hành với chu kỳ thay đổi lịch sử là bước phát triển của thời Trâu Diễn.
Tung hoành gia: nghề nói để đổi cục diện
Hợp tung và liên hoành
Thời Chiến Quốc, Tần ở phía tây ngày càng mạnh. Hợp tung là kế các nước phía đông liên kết theo trục bắc nam để cùng chống Tần, gắn với tên Tô Tần. Liên hoành là kế các nước theo trục đông tây làm thân với Tần, gắn với tên Trương Nghi, người làm tướng quốc nước Tần. Tung hoành vốn là dọc ngang, về sau tiếng Việt dùng “tung hoành” với nghĩa vẫy vùng tự do.
Văn bản
Nguồn chính là Chiến Quốc sách, do Lưu Hướng đời Hán biên tập từ nhiều tài liệu, chép lời du thuyết của các mưu sĩ. Đây là kho văn nghị luận và ngụ ngôn rất sinh động; các chuyện “vẽ rắn thêm chân”, “cáo mượn oai hùm” đều có trong sách này. Sử ký kể về Tô Tần, Trương Nghi khá chi tiết, nhưng các tài liệu khai quật đời sau làm giới nghiên cứu xem lại niên đại hoạt động của Tô Tần, nên các mốc thời gian nên trích kèm lưu ý.
Thầy của họ
Tương truyền cả hai học với Quỷ Cốc tiên sinh, và có sách mang tên Quỷ Cốc Tử. Đây là truyền thuyết chưa có bằng chứng chắc; khi viết nên dùng chữ “tương truyền”.
Nông gia: cuộc tranh luận về chuyện ai phải cày
Tư liệu về Nông gia còn lại rõ nhất lại nằm trong sách của đối thủ: thiên Đằng Văn Công thượng sách Mạnh Tử. Hứa Hành từ nước Sở đến nước Đằng, mặc áo vải thô, cùng môn đồ dệt chiếu đan dép mà sống. Học trò của một nhà Nho là Trần Tương bỏ thầy theo Hứa Hành, rồi đến nói với Mạnh Tử rằng người hiền phải cùng dân cày cấy mà ăn, vua nước Đằng có kho đụn là sống bằng sức dân.
Mạnh Tử hỏi dồn: Hứa Hành có tự dệt vải may mũ không, có tự đúc nồi, rèn lưỡi cày không? Không, ông ấy đổi thóc lấy những thứ ấy, vì không thể vừa cày vừa làm trăm nghề. Từ đó Mạnh Tử đi tới câu nổi tiếng: có người làm việc bằng tâm trí, có người làm việc bằng sức lực; “lao tâm giả trị nhân, lao lực giả trị ư nhân”. Đây là một trong những lập luận sớm nhất về phân công lao động trong văn học Trung Hoa.
Dù bị Mạnh Tử bác, chủ trương của Nông gia cho thấy thời ấy đã có tiếng nói đòi người cai trị sống giản dị và gần với lao động sản xuất. Hán thư cũng ghi Nông gia chú trọng việc cày cấy, chăn nuôi, đủ ăn đủ mặc là gốc của chính sự.
Tạp gia: Lã Thị Xuân Thu và Hoài Nam Tử
Tạp gia không có nghĩa là lộn xộn. Hán thư mô tả Tạp gia là kiêm cả Nho, Mặc, hợp cả Danh, Pháp — biết rằng phép trị nước cần đủ các mặt. Hai văn bản tiêu biểu đều do một người quyền thế tập hợp môn khách biên soạn.
Lã Thị Xuân Thu do Lã Bất Vi, tướng quốc nước Tần, cho môn khách soạn trước khi Tần thống nhất. Sử ký chép rằng sách soạn xong được bày ở cổng chợ Hàm Dương, treo nghìn vàng, ai thêm bớt được một chữ thì thưởng — gốc của thành ngữ “nhất tự thiên kim”. Sách chia làm mười hai kỷ (ứng với mười hai tháng), tám lãm và sáu luận, gom nhiều chuyện và luận điểm của các nhà; chuyện “khắc chu cầu kiếm” nằm trong thiên Sát kim của sách này.
Hoài Nam Tử do Hoài Nam vương Lưu An đời Hán sai môn khách soạn, nghiêng nhiều về Đạo gia nhưng dung nạp các nhà khác. Cả hai bộ là nơi lưu giữ nhiều mảnh tư tưởng đã thất truyền ở dạng sách riêng.
Bảng tra nhanh bốn nhà
Bảng dưới gom các thông tin cần nhớ để khi gặp trong sách khác bạn nhận ra ngay:
| Nhà | Nhân vật gắn tên | Văn bản còn đọc được | Ý chính | Dấu vết trong tiếng Việt |
|---|---|---|---|---|
| Âm dương gia | Trâu Diễn | Chỉ còn qua Sử ký và sách khác | Ngũ đức chung thủy, đại cửu châu | Ngũ hành tương sinh tương khắc |
| Tung hoành gia | Tô Tần, Trương Nghi | Chiến Quốc sách | Liên minh, thuyết phục, đổi cục diện | Tung hoành; vẽ rắn thêm chân |
| Nông gia | Hứa Hành | Chỉ còn qua sách Mạnh Tử | Người cai trị cùng dân cày cấy | Lao tâm, lao lực (qua lời Mạnh Tử) |
| Tạp gia | Lã Bất Vi, Lưu An | Lã Thị Xuân Thu, Hoài Nam Tử | Gom chỗ hay của các nhà | Nhất tự thiên kim; khắc chu cầu kiếm |
Lưu ý khi đọc và trích về bốn nhà này
Tư liệu ít, lại phần nhiều qua tay đối thủ, nên cần cẩn trọng hơn mọi nhà khác:
- Ghi rõ nguồn gián tiếp: “theo sách Mạnh Tử”, “theo Sử ký”, thay vì viết như thể đọc được sách của chính Hứa Hành hay Trâu Diễn.
- Phân biệt Tung hoành gia như một lớp người hành nghề ngoại giao với các nhà có hệ thống tư tưởng; ranh giới này người xưa cũng đã bàn.
- Không đọc Âm dương gia qua lăng kính xem ngày, chọn hướng; đó là ứng dụng đời sau.
- Đọc Lã Thị Xuân Thu theo từng thiên, ghi chú thiên đó gần với nhà nào; chính việc nhận diện ấy là bài tập tốt để ôn lại cả bách gia.
Câu hỏi thường gặp
Âm dương gia có phải là thầy bói không?
Không. Âm dương gia thời Chiến Quốc là một dòng tư tưởng xây dựng vũ trụ luận, dùng âm dương và ngũ hành giải thích tự nhiên và sự thay đổi triều đại. Các ứng dụng xem ngày, bói toán là chuyện đời sau.
Hợp tung và liên hoành khác nhau thế nào?
Hợp tung là các nước phía đông liên kết theo trục bắc nam để cùng chống Tần, gắn với Tô Tần. Liên hoành là từng nước theo trục đông tây làm thân với Tần, gắn với Trương Nghi.
Vì sao biết về Nông gia chủ yếu qua sách Mạnh Tử?
Vì sách của Nông gia đã mất. Đoạn chi tiết nhất còn lại là cuộc tranh luận giữa Mạnh Tử và Trần Tương, học trò theo Hứa Hành, chép trong thiên Đằng Văn Công thượng.
Nhất tự thiên kim nghĩa là gì?
Nghĩa là một chữ đáng nghìn vàng. Theo Sử ký, Lã Bất Vi treo sách Lã Thị Xuân Thu ở cổng chợ Hàm Dương, hứa thưởng nghìn vàng cho ai thêm bớt được một chữ.
Tạp gia có đáng đọc không?
Đáng đọc, vì Lã Thị Xuân Thu và Hoài Nam Tử giữ lại nhiều mảnh tư tưởng, ngụ ngôn của các nhà đã thất truyền. Đọc từng thiên và đối chiếu với các nhà lớn là cách ôn lại bách gia rất hiệu quả.