Muốn đọc ấn triện trên giấy tờ Hán Nôm, hãy ghi nhận hình dạng và vị trí dấu trước, rồi mới đọc chữ. Chữ trong dấu thường là chữ triện, đọc từ cột phải xuống rồi sang cột trái. Vị trí dấu cho biết vai trò: xác nhận văn bản, nối các tờ, hay đánh dấu người sở hữu.
Trên một tờ sắc phong, một tờ văn tự bán ruộng hay một cuốn sách cổ, những vết son đỏ thường bị bỏ qua vì “chữ khó quá”. Thực ra, chỉ riêng hình dạng và chỗ đóng dấu đã cho nhiều thông tin, chưa cần đọc ra được chữ. Bài này giúp bạn phân loại dấu, tập đọc chữ trong dấu và tránh những suy đoán vội.
Chữ triện là gì, vì sao dấu dùng chữ triện?
Chữ triện là một lối chữ Hán cổ, nét cong đều, dày mảnh như nhau, bố cục cân đối trong khung. Lối chữ này đã nhường chỗ cho chữ lệ, chữ khải trong sách vở thường ngày từ rất lâu, nhưng vẫn được dùng cho con dấu, tiêu đề bia và một số bức hoành phi vì vẻ trang trọng và khả năng xếp vừa khít trong một khung vuông.
Với người mới, chữ triện khó đọc vì nhiều bộ phận được biến hình, kéo dài hoặc gập lại cho đầy khung. Cách học hiệu quả là đối chiếu: tra từ điển chữ triện có ghi kèm chữ khải tương ứng, tập nhận những bộ thủ hay gặp, và bắt đầu từ những dấu mà bạn đã đoán được nội dung, như ấn trên sắc phong.
Phân loại dấu theo vai trò
Không phải dấu nào cũng là dấu của nhà nước. Bảng dưới đây giúp bạn nhận ra vai trò của từng dấu trước khi đọc chữ.
| Loại dấu | Hình dạng hay gặp | Thường đóng ở đâu | Cho biết gì |
|---|---|---|---|
| Ấn của triều đình, cơ quan | Vuông lớn, viền dày, son đỏ | Trùm lên dòng niên hiệu, ngày tháng | Văn bản được ban hành, xác nhận chính thức |
| Dấu của chức dịch làng xã | Nhỏ hơn, hình dạng đa dạng | Cạnh chữ ký, cạnh lời thị thực ở cuối văn tự | Chính quyền làng xã đã xác nhận giao dịch |
| Dấu giáp lai | Bất kỳ, đóng chồm lên mép | Ngang qua chỗ nối hai tờ | Các tờ thuộc cùng một văn bản, chống tráo tờ |
| Dấu tên, dấu tự của cá nhân | Vuông nhỏ, có khi dùng theo cặp | Cạnh tên người viết, người soạn | Ai là tác giả, người viết chữ |
| Dấu sở hữu, thu tàng | Vuông hoặc chữ nhật | Tờ đầu, tờ cuối sách, góc tranh chữ | Sách từng thuộc tủ sách của ai |
| Dấu nhàn chương | Chữ nhật, tròn, bầu dục, hình tự do | Góc trên bên phải hoặc chỗ trống | Câu chữ ưa thích, mang tính thưởng ngoạn |
Màu son cũng là một manh mối phụ. Son đóng lâu năm thường ngả sang đỏ trầm hoặc nâu, thấm vào sợi giấy; vết son quá tươi, nổi trên mặt giấy trên một văn bản rất cũ đáng được xem lại kỹ. Tuy vậy, màu son còn phụ thuộc chất liệu và cách bảo quản, nên chỉ dùng để đặt câu hỏi, không dùng để kết luận.
Một tờ có thể mang nhiều dấu thuộc nhiều lớp thời gian khác nhau: dấu xác nhận lúc lập văn bản, dấu thu tàng của người sở hữu đời sau. Khi mô tả, hãy đánh số từng dấu và ghi vị trí, đừng gộp chung là “có dấu đỏ”.
Đọc chữ trong một con dấu
Khi đã biết vai trò của dấu, việc đọc chữ trong dấu trở nên có định hướng hơn. Ba điểm sau là nền tảng.
Âm văn và dương văn
Dấu âm văn có chữ khắc chìm, khi đóng thì chữ trắng trên nền đỏ. Dấu dương văn có chữ khắc nổi, khi đóng thì chữ đỏ trên nền trắng. Người xưa hay dùng cặp hai dấu tên và tên tự, một âm một dương. Nhận ra loại dấu giúp bạn biết phần nào là nét chữ, phần nào là nền, tránh đọc nhầm khoảng trống thành nét.
Thứ tự đọc
Dấu bốn chữ xếp hai cột hai hàng thường đọc như văn bản thường: cột phải từ trên xuống, rồi cột trái từ trên xuống. Dấu ba chữ có khi một chữ chiếm trọn cột phải, hai chữ xếp ở cột trái. Có dấu đọc vòng quanh, hiếm hơn. Nếu đọc theo thứ tự quen mà không thành nghĩa, hãy thử các thứ tự khác rồi tra lại.
Chữ hay gặp cuối dấu
Nhiều dấu kết thúc bằng những chữ chỉ chính con dấu như ấn (印), bảo (寶), chi ấn, chi bảo, ký. Nhận ra chữ cuối giúp bạn đoán cấu trúc phía trước: thường là tên người, tên cơ quan hoặc chức danh.
Dấu giáp lai và dấu đóng trùm lên chữ nói gì?
Dấu giáp lai là dấu đóng sao cho một nửa nằm trên tờ này, một nửa trên tờ kế, hoặc chồm lên mép nối hai mảnh giấy. Muốn tráo một tờ, kẻ gian phải làm giả đúng nửa dấu khớp với nửa còn lại, rất khó. Khi chụp hoặc sắp xếp lại một văn bản nhiều tờ đã bị rời, ghép các nửa dấu giáp lai là cách đáng tin để xác định thứ tự gốc.
Dấu đóng trùm lên dòng niên hiệu hay lên tên người là cách xác nhận phần chữ ấy, khiến việc sửa chữ bên dưới sẽ lộ ra. Vì vậy, nếu thấy một dòng chữ quan trọng nằm cạnh mà không nằm dưới dấu như thông lệ, hoặc thấy nét chữ đè lên dấu thay vì dấu đè lên chữ, hãy ghi lại: đó có thể là chữ viết bổ sung về sau.
Để biết chữ hay dấu có trước, soi kỹ chỗ giao nhau bằng kính lúp và ánh sáng nghiêng. Mực son đóng sau sẽ phủ lên nét mực đen; nét mực viết sau sẽ nằm trên lớp son. Không phải lúc nào cũng thấy rõ, nhưng khi thấy được thì đó là bằng chứng có giá trị.
Lỗi hay gặp khi ghi chép ấn triện
Chỉ ghi “có dấu” mà không ghi vị trí, hình dạng. Mất thông tin quan trọng nhất về vai trò của dấu. Ghi rõ dấu số mấy, nằm ở đâu, vuông hay tròn, âm hay dương.
Đoán chữ dấu theo nội dung văn bản. Chữ trong dấu có khi không lặp lại nội dung văn bản. Ghi chữ đọc chắc, chữ chưa chắc để ô vuông.
Đóng thêm dấu mới lên tư liệu cũ. Một số gia đình đóng dấu họ hoặc dấu cá nhân lên gia phả, sắc phong cũ để đánh dấu sở hữu. Việc này làm thay đổi hiện vật vĩnh viễn, nên tránh.
Tô lại dấu bị mờ. Tô son hay mực đỏ lên dấu mờ là xoá mất nét gốc. Dấu mờ chụp bằng ánh sáng nghiêng hoặc tăng tương phản trên ảnh, không đụng vào bản gốc.
Coi mọi dấu đỏ là dấu triều đình. Nhiều dấu là của cá nhân, người sưu tầm hoặc chức dịch làng xã. Gán nhầm vai trò dẫn tới đánh giá sai giá trị và niên đại văn bản.
Việc nên làm ngay với tư liệu có dấu
Khi bạn đang có trong tay một văn bản có dấu, có thể làm ngay những việc sau:
- Chụp mỗi dấu một ảnh gần, thẳng góc, có thước kẻ đặt cạnh để biết kích thước.
- Đánh số dấu theo thứ tự trên văn bản, ghi vị trí, hình dạng, màu, âm hay dương.
- Ghi các chữ đọc được trong dấu, đánh dấu chữ nghi ngờ.
- Kiểm tra dấu giáp lai nếu văn bản có nhiều tờ, ghi lại thứ tự ghép.
- Gửi ảnh dấu cho người đọc chữ triện kèm ảnh toàn văn bản, để họ đọc dấu trong đúng ngữ cảnh.
Câu hỏi thường gặp
Chữ trong con dấu cổ đọc theo thứ tự nào?
Dấu bốn chữ thường đọc cột phải từ trên xuống rồi cột trái từ trên xuống. Có dấu xếp khác, nên nếu đọc không thành nghĩa thì thử thứ tự khác và tra lại.
Âm văn và dương văn khác nhau thế nào?
Âm văn là chữ khắc chìm, khi đóng cho chữ trắng trên nền đỏ. Dương văn là chữ khắc nổi, khi đóng cho chữ đỏ trên nền trắng. Hai loại hay được dùng thành cặp.
Dấu giáp lai dùng để làm gì?
Dấu giáp lai đóng chồm lên chỗ nối hai tờ hoặc hai mảnh giấy, chứng minh chúng thuộc cùng một văn bản và chống việc tráo tờ. Ghép các nửa dấu còn giúp xếp lại thứ tự tờ.
Dấu nhàn chương là gì?
Dấu nhàn chương khắc một câu chữ ưa thích, tên hiệu phòng đọc sách hay lời răn mình, không phải tên người hay cơ quan. Thường đóng ở góc tờ, mang tính thưởng ngoạn.
Có nên đóng dấu dòng họ lên gia phả cổ để đánh dấu sở hữu không?
Không nên. Đóng thêm dấu làm thay đổi hiện vật vĩnh viễn. Hãy ghi nhận sở hữu bằng phiếu danh mục, phong bì hoặc thẻ treo bên ngoài.
Làm sao biết chữ viết trước hay dấu đóng trước?
Soi chỗ giao nhau bằng kính lúp và ánh sáng nghiêng. Lớp nào nằm trên là lớp làm sau. Không phải lúc nào cũng thấy rõ, nhưng khi thấy thì đó là bằng chứng có giá trị.