Đọc sắc phong nên đi theo khuôn của nó: chữ Sắc to ở đầu, tiếp đến người hoặc đối tượng được ban sắc, lý do ban, các mỹ tự được ban, rồi dòng niên hiệu cùng ngày tháng ở cuối, có ấn son đóng trùm lên. Biết khuôn này, bạn định vị được thông tin chính rất nhanh.
Nhiều làng và dòng họ còn giữ sắc phong trong hòm gỗ, mỗi năm mở ra một lần, ít người đọc được. Bài này không bàn về ý nghĩa tín ngưỡng, mà nhìn sắc phong như một văn bản hành chính của triều đình: có thể thức, có người soạn theo mẫu, có dấu xác thực. Chính vì viết theo mẫu nên sắc phong là loại văn bản Hán dễ tập đọc hơn văn bia hay sách.
Sắc phong là loại văn bản gì?
Sắc phong là văn bản do vua ban, dùng chữ sắc (敕) mở đầu, để phong chức tước, phẩm hàm hoặc ban danh hiệu. Ở làng xã, loại thường gặp nhất là sắc ban mỹ tự cho các vị được thờ ở đình, đền; ở dòng họ, có sắc phong chức cho người làm quan hoặc ban tặng cho cha mẹ, ông bà của người làm quan.
Bên cạnh sắc còn có những loại văn bản cùng họ như chế, cáo, chiếu, mỗi loại có thể thức và phạm vi riêng, thay đổi qua các triều đại. Khi chưa chắc tên gọi, bạn cứ ghi nguyên chữ mở đầu văn bản và mô tả hình thức, rồi nhờ người chuyên môn xác định, thay vì gán tên theo cảm tính.
Nhận ra sắc phong qua hình thức
Chưa cần đọc chữ, bạn đã có thể nhận ra sắc phong nhờ ba đặc điểm hình thức.
Chất liệu và trang trí
Sắc thường viết trên giấy dày, khổ lớn, nền vàng hoặc nhiều màu, vẽ rồng và mây bằng nhũ hoặc màu. Viền giấy có hoa văn. Chữ viết tay bằng mực đen, lối chữ chân phương ngay ngắn, chữ đầu tiên viết rất to.
Cách gấp, cuộn
Sắc được cuộn hoặc gấp xếp theo nếp ngang. Sau nhiều năm, những nếp gấp này là chỗ rách trước tiên. Khi mở, hãy đặt lên mặt phẳng rộng và mở từ từ, không giũ ra như mở tấm vải.
Bố cục chữ của một đạo sắc
Thứ tự dưới đây là khuôn chung hay gặp. Từng triều và từng loại sắc có thể thêm bớt, nhưng phần mở và phần cuối khá ổn định.
| Vị trí | Nội dung | Dấu hiệu nhận ra |
|---|---|---|
| Cột đầu bên phải | Chữ Sắc | Một chữ rất to, đứng riêng |
| Các cột tiếp | Đối tượng được ban sắc | Tên, danh hiệu cũ, hoặc chức tước và quê quán người nhận |
| Phần giữa | Lý do ban sắc | Câu văn biền ngẫu ca ngợi công trạng, đức độ |
| Phần giữa – cuối | Nội dung ban | Mỹ tự, chức tước, phẩm hàm được ban hoặc gia tặng |
| Câu gần cuối | Lời giao phó | Câu dặn người nhận hoặc cộng đồng giữ gìn, thi hành |
| Cột cuối bên trái | Niên hiệu, năm, tháng, ngày | Chữ niên hiệu thường viết đậm, nằm dưới ấn son |
Trong phần nội dung ban, những cụm bốn chữ ca ngợi gọi là mỹ tự. Ví dụ cụm Dực bảo trung hưng (翊保中興) xuất hiện ở rất nhiều sắc thời Nguyễn. Gặp những cụm lặp lại như vậy, bạn biết mình đang ở đúng đoạn ban danh hiệu.
Dấu ấn và dòng niên hiệu nói gì?
Ấn son trên sắc thường là ấn vuông lớn, đóng trùm lên dòng niên hiệu. Trên nhiều sắc thời Lê và thời Nguyễn, chữ trong ấn là Sắc mệnh chi bảo (敕命之寶), tức báu ấn dùng cho sắc mệnh. Chữ trong ấn là chữ triện, đọc khó; bạn có thể ghi nhận hình dạng, màu, kích thước trước rồi đọc sau.
Dòng niên hiệu cho biết sắc được ban vào năm thứ mấy của niên hiệu nào, tháng mấy, ngày mấy. Một làng có thể giữ nhiều sắc từ nhiều đời vua khác nhau; xếp chúng theo dòng niên hiệu là cách nhanh nhất để lập danh mục. Muốn quy ra năm dương lịch, hãy dùng bảng tra niên biểu do cơ quan nghiên cứu công bố, và ghi rõ trong sổ là năm đã quy đổi.
Một điểm cần thận trọng: sắc có thể bị chép lại, phục chế hoặc làm giả về sau. Giấy mới bất thường, nét mực quá tươi, ấn mờ nhoè không rõ chữ, hoặc niên hiệu không khớp với thể thức chung là những dấu hiệu cần nhờ chuyên gia giám định, đừng vội kết luận.
Cách tập đọc một đạo sắc cho người mới
Nếu bạn biết vài trăm chữ Hán thông dụng, có thể thử theo thứ tự sau:
- Chụp ảnh toàn tờ trên nền sáng, sau đó chụp gần từng nhóm ba, bốn cột.
- Đọc chữ đầu và dòng cuối trước để xác định loại văn bản và thời điểm.
- Tìm tên người nhận hoặc danh hiệu cũ ở các cột đầu; tên riêng thường được viết đầy đủ, có khi kèm quê quán.
- Đánh dấu các cụm bốn chữ lặp lại, thường là mỹ tự; tra từng chữ trong từ điển Hán Việt.
- Phần lý do ban sắc viết văn biền ngẫu, nhiều điển cố; nếu chưa đủ sức, ghi lại phiên âm và để dịch sau.
- Lập một bản chép gồm ba cột: chữ Hán, phiên âm Hán Việt, ghi chú chữ nghi ngờ.
Không cần dịch trọn bản để lập danh mục. Một dòng tóm tắt gồm loại văn bản, người hoặc đối tượng nhận, niên hiệu và tình trạng giấy đã đủ cho bước đầu.
Lỗi hay gặp khi giữ và đọc sắc phong
Mở sắc nơi gió to hoặc ẩm. Giấy sắc đã giòn sẽ rách ở nếp gấp. Hãy mở trong phòng kín gió, tay khô sạch, có người phụ giữ đầu bên kia.
Ép plastic để giữ cho bền. Ép nhiệt không gỡ ra được, làm hỏng giấy và màu về lâu dài. Bảo quản nên dùng cách có thể đảo ngược như hộp, bìa giấy sạch.
Dịch mỹ tự theo nghĩa từng chữ rồi suy diễn. Mỹ tự là danh hiệu theo mẫu, mang tính nghi thức. Dịch quá sát từng chữ rồi gán thêm câu chuyện là cách tạo ra những giai thoại không có nguồn.
Chỉ chụp phần chữ, bỏ phần trang trí. Hoa văn rồng mây, viền giấy, màu nền là thông tin giúp người nghiên cứu xác định thời kỳ và đối chiếu thể thức.
Cho mượn bản gốc để photocopy. Ánh sáng và nhiệt của máy photocopy, cùng việc ép phẳng tờ giấy, gây hại cho sắc cũ. Hãy chụp ảnh tại chỗ.
Bắt đầu từ đâu nếu làng bạn có nhiều sắc?
Việc đầu tiên không phải là dịch, mà là đếm và đánh số. Mỗi đạo sắc một mã số, ghi trên phong bì hoặc tờ giấy lót chứ không ghi lên sắc. Kèm theo là ảnh chụp, kích thước, tình trạng và dòng niên hiệu nếu đọc được.
Sau đó mới mời người đọc chữ Hán làm bản phiên âm, dịch nghĩa cho từng đạo, ưu tiên những đạo đang xuống cấp nhanh. Với sắc của dòng họ, hãy ghi thêm người đang giữ, đời thứ mấy trong gia phả, và quan hệ giữa người được ban sắc với tổ tiên đang thờ, vì thông tin này thường chỉ người trong họ biết.
Khi có bản phiên âm, đối chiếu chéo giữa các đạo sắc cùng một đối tượng là bước rất đáng làm. Sắc đời sau thường nhắc lại danh hiệu đã ban ở đời trước rồi gia tặng thêm, nên đặt chúng cạnh nhau sẽ thấy rõ chuỗi danh hiệu được bồi đắp ra sao, đồng thời phát hiện chỗ người chép trước đọc nhầm. Một bản danh mục rõ ràng giúp làng xin hỗ trợ bảo quản, phục chế, và giúp con cháu đời sau không phải bắt đầu lại từ đầu.
Câu hỏi thường gặp
Sắc phong có phải lúc nào cũng phong cho thần không?
Không. Bên cạnh sắc ban mỹ tự cho các vị được thờ ở đình, đền, còn có sắc phong chức tước, phẩm hàm cho quan lại và sắc ban tặng cho cha mẹ, ông bà của người làm quan.
Chữ to ở đầu sắc phong là chữ gì?
Thường là chữ Sắc, viết là 敕, đứng riêng ở cột đầu bên phải và lớn hơn hẳn các chữ khác. Nó cho biết đây là văn bản do vua ban theo thể thức sắc.
Dấu đỏ trên sắc phong thường ghi chữ gì?
Trên nhiều sắc thời Lê và Nguyễn, ấn đóng trên dòng niên hiệu có bốn chữ triện Sắc mệnh chi bảo. Tuy vậy, ấn có thể khác theo triều và loại văn bản, nên cần đọc trực tiếp.
Làm sao biết sắc phong được ban năm nào?
Đọc dòng niên hiệu ở cột cuối bên trái, gồm tên niên hiệu, năm thứ mấy, tháng, ngày. Sau đó đối chiếu niên biểu để quy ra dương lịch và ghi rõ là năm đã quy đổi.
Có nên ép plastic sắc phong cho khỏi rách không?
Không nên. Ép nhiệt không thể gỡ ra, lâu dần làm hỏng giấy và màu. Hãy dùng hộp, bìa giấy sạch, để nơi khô thoáng và nhờ cơ quan chuyên môn khi cần phục chế.
Mỹ tự trên sắc phong có nên dịch sát từng chữ không?
Nên phiên âm đầy đủ và giải nghĩa chung. Mỹ tự là danh hiệu nghi thức theo mẫu, dịch quá sát rồi suy diễn dễ sinh ra những câu chuyện không có căn cứ.