Không cần thuộc cả 214 bộ thủ ngay từ đầu. Người học chữ Hán để đọc văn cổ nên nắm trước khoảng ba mươi bộ hay gặp nhất, nhất là các bộ đổi dạng khi đứng bên trái như 氵, 扌, 忄, 亻, rồi học dần phần còn lại qua chữ thật.
Bộ thủ là cánh cửa đầu tiên của chữ Hán vì hai lẽ: từ điển Hán Việt truyền thống xếp chữ theo bộ, và bộ thủ thường cho biết chữ thuộc trường nghĩa nào. Nhưng học bộ thủ như học thuộc một danh sách dài thì rất nhanh nản. Bài này chỉ ra nên học nhóm nào trước, nhóm nào để sau, và những chỗ bộ thủ đánh lừa người mới.
Bộ thủ là gì, và vì sao lại là 214 bộ?
Bộ thủ là thành phần dùng để xếp chữ vào từng nhóm trong từ điển. Hệ 214 bộ được dùng để sắp xếp chữ trong Khang Hy tự điển đời Thanh, và từ đó thành khung quen thuộc của hầu hết từ điển chữ Hán phồn thể, kể cả Hán Việt tự điển của Thiều Chửu mà nhiều người Việt vẫn dùng.
Các bộ được xếp theo số nét, từ bộ một nét như 一 nhất, 丨 cổn, 丶 chủ cho tới bộ mười bảy nét là 龠 dược. Trong số đó có những bộ rất ít khi làm chủ cho chữ nào, nhưng cũng có những bộ đứng đầu hàng trăm chữ. Phân bố lệch như vậy chính là lý do không nên học đều tay cả 214 bộ: công sức bỏ vào bộ 龠 dược không đem lại bao nhiêu khi đọc một tấm bia hay một trang gia phả.
Cần phân biệt hai việc. Bộ thủ là khái niệm của cách xếp từ điển, còn thành phần nghĩa (nghĩa phù) là khái niệm của cấu tạo chữ. Phần lớn trường hợp hai thứ trùng nhau, chẳng hạn chữ 江 giang có bộ thuỷ và cũng mang nghĩa sông nước. Nhưng có những chữ bị xếp vào một bộ chỉ vì người soạn từ điển cần một chỗ để đặt nó, không vì nghĩa.
Ba mươi bộ nên thuộc trước
Danh sách dưới đây gom những bộ đứng đầu nhiều chữ hay gặp trong văn bản Hán văn của người Việt: câu đối, văn bia, gia phả, sách học. Mỗi bộ kèm dạng biến thể khi làm thành phần và ba chữ ví dụ để học cùng lúc.
| Bộ | Âm đọc | Dạng khi làm bên | Trường nghĩa | Chữ ví dụ |
|---|---|---|---|---|
| 人 | nhân | 亻 | người, việc của người | 仁 nhân, 信 tín, 何 hà |
| 口 | khẩu | giữ nguyên | miệng, lời | 名 danh, 告 cáo, 問 vấn |
| 土 | thổ | giữ nguyên | đất, công trình | 地 địa, 城 thành, 堂 đường |
| 女 | nữ | giữ nguyên | phụ nữ, quan hệ hôn nhân | 好 hảo, 姓 tính, 婚 hôn |
| 子 | tử | giữ nguyên | con cái, học hành | 孝 hiếu, 學 học, 孫 tôn |
| 宀 | miên | mái trên đầu chữ | nhà, nơi ở | 家 gia, 安 an, 室 thất |
| 心 | tâm | 忄 bên trái | lòng, tình cảm | 志 chí, 情 tình, 思 tư |
| 手 | thủ | 扌 bên trái | tay, động tác | 打 đả, 持 trì, 拜 bái |
| 日 | nhật | giữ nguyên | mặt trời, thời gian | 明 minh, 時 thời, 春 xuân |
| 木 | mộc | giữ nguyên | cây, gỗ | 林 lâm, 校 hiệu, 根 căn |
| 水 | thuỷ | 氵 bên trái | nước, sông | 江 giang, 河 hà, 海 hải |
| 火 | hoả | 灬 dưới chân | lửa, nhiệt | 炎 viêm, 熱 nhiệt, 然 nhiên |
| 言 | ngôn | 訁 bên trái | lời nói, văn chương | 語 ngữ, 讀 độc, 詩 thi |
| 糸 | mịch | giữ nguyên | tơ, dây, nối kết | 紙 chỉ, 結 kết, 經 kinh |
| 艸 | thảo | 艹 trên đầu | cỏ cây | 花 hoa, 草 thảo, 茶 trà |
| 金 | kim | giữ nguyên | kim loại, tiền | 銀 ngân, 鐵 thiết, 錢 tiền |
| 辵 | sước | 辶 ôm góc trái dưới | đi lại, đường | 道 đạo, 進 tiến, 送 tống |
| 阜 | phụ | 阝 bên trái | gò đất, độ cao | 陽 dương, 陰 âm, 院 viện |
| 邑 | ấp | 阝 bên phải | vùng đất, thành ấp | 都 đô, 郡 quận, 部 bộ |
| 門 | môn | bao ngoài | cửa | 開 khai, 閉 bế, 間 gian |
| 雨 | vũ | trên đầu | mưa, thời tiết | 雪 tuyết, 雲 vân, 電 điện |
| 衣 | y | 衤 bên trái | áo, vải | 被 bị, 裝 trang, 補 bổ |
| 示 | thị | 礻 bên trái | lễ nghi, tổ tiên | 祖 tổ, 禮 lễ, 福 phúc |
| 竹 | trúc | ⺮ trên đầu | tre, thẻ tre, sách | 筆 bút, 等 đẳng, 簡 giản |
| 肉 | nhục | 月 bên trái hoặc dưới | thịt, cơ thể | 肝 can, 肺 phế, 胸 hung |
| 貝 | bối | giữ nguyên | của cải, tiền bạc | 財 tài, 貧 bần, 買 mãi |
| 刀 | đao | 刂 bên phải | dao, cắt | 利 lợi, 別 biệt, 刻 khắc |
| 力 | lực | giữ nguyên | sức, công việc | 功 công, 動 động, 勤 cần |
| 攴 | phộc | 攵 bên phải | tác động, sai khiến | 教 giáo, 政 chính, 改 cải |
| 玉 | ngọc | 王 bên trái | ngọc, vật quý | 理 lý, 珠 châu, 現 hiện |
Nên chia bảng thành năm nhóm sáu bộ và luôn học bộ cùng chữ ví dụ.
Những bộ đổi dạng: chỗ người mới hay vấp nhất
Bộ đứng bên trái thường bị viết gọn
Rất nhiều bộ khi làm thành phần bên trái thì co lại thành một dạng khác hẳn: 水 thành 氵 ba chấm, 手 thành 扌, 心 thành 忄, 人 thành 亻, 言 thành 訁, 衣 thành 衤, 示 thành 礻, 犬 thành 犭. Người mới nhìn chữ 情 tình thường đi tìm bộ 青 thanh, trong khi chữ này nằm ở bộ tâm, vì 忄 chính là 心.
Cách nhớ đơn giản là luôn học thành cặp: mỗi lần gặp dạng gọn thì đọc to tên dạng đầy đủ. Thấy 氵 thì nói “bộ thuỷ”, thấy 扌 thì nói “bộ thủ”. Sau vài tuần, mắt tự nối hai dạng với nhau.
Hai chữ 阝 khác nhau theo vị trí
Dấu 阝 đứng bên trái là bộ phụ (gò đất), như trong 陽 dương, 陰 âm, 院 viện. Cùng dấu ấy đứng bên phải là bộ ấp (vùng đất, thành ấp), như trong 都 đô, 郡 quận, 部 bộ.
礻 và 衤 chỉ khác nhau một chấm
Bộ thị viết gọn là 礻, bộ y viết gọn là 衤, chênh nhau đúng một nét chấm nhỏ. Chữ 祖 tổ, 福 phúc thuộc bộ thị; chữ 被 bị, 補 bổ thuộc bộ y. Khi chữ in mờ hoặc viết tay, nên đếm nét cho chắc trước khi kết luận.
月 có thể là trăng, cũng có thể là thịt
Trong từ điển phồn thể, nhiều chữ chỉ bộ phận cơ thể như 肝 can, 肺 phế, 胸 hung có thành phần trông như 月 nhưng thực ra là bộ nhục 肉. Còn 朝 triều, 期 kỳ, 朋 bằng thì xếp ở bộ nguyệt.
王 bên trái thường là ngọc, không phải vua
Các chữ 理 lý, 珠 châu, 現 hiện có thành phần 王 bên trái, nhưng đó là dạng gọn của bộ ngọc 玉. Nghĩa gốc của 理 là mài giũa ngọc theo thớ, từ đó mới ra nghĩa lý lẽ, sắp xếp.
Bộ thủ gợi nghĩa tới đâu, và khi nào nó đánh lừa
Gợi nghĩa khá tốt với chữ cụ thể. Các chữ thuộc bộ thuỷ như 江 giang, 河 hà, 海 hải, 湖 hồ, 波 ba đều dính tới nước. Gặp một chữ lạ có 氵 trong câu tả cảnh sông thì đoán được hướng nghĩa trước khi tra.
Gợi nghĩa yếu với chữ trừu tượng. Chữ 法 pháp có bộ thuỷ nhưng nghĩa là phép tắc. Giới nghiên cứu có nhiều cách giải thích về nguồn gốc, nhưng với người đọc văn bản thì bộ thuỷ ở đây gần như không giúp đoán nghĩa. Chữ 漢 Hán ban đầu là tên sông, rồi thành tên triều đại và tên một dân tộc.
Có chữ bị xếp bộ chỉ để có chỗ đặt. Chữ 事 sự nằm ở bộ quyết 亅, chữ 去 khứ nằm ở bộ khư 厶, chữ 以 dĩ nằm ở bộ nhân, chữ 也 dã nằm ở bộ ất 乙, chữ 求 cầu nằm ở bộ thuỷ. Những chữ này rất hay gặp trong văn cổ nhưng bộ của chúng không nói gì về nghĩa.
Đừng giải nghĩa bằng cách cộng bộ thủ. Tách chữ ra từng phần rồi ghép nghĩa lại thành một câu chuyện là cách nhớ vui, nhưng không phải cách hiểu đúng. Nghĩa thật của chữ phải lấy từ từ điển và từ văn cảnh.
Học bộ thủ thế nào để nhớ lâu
Cách học hiệu quả nhất là để bộ thủ đi kèm chữ thật ngay từ ngày đầu. Có thể làm theo thứ tự sau:
- Mỗi ngày học năm đến sáu bộ trong bảng trên, mỗi bộ chép tay ba chữ ví dụ, vừa chép vừa đọc âm Hán Việt.
- Viết tên bộ bằng âm Hán Việt cạnh hình chữ, không cần nhớ số thứ tự của bộ trong danh sách 214.
- Sau mỗi tuần, lấy một đoạn văn ngắn có chữ Hán (một câu đối, vài dòng sách học vỡ lòng) và khoanh bộ thủ của từng chữ.
- Tập tra thử năm chữ trong từ điển xếp theo bộ để tay quen với cách lật mục lục.
- Bộ nào chưa gặp trong chữ thật thì tạm gác lại; khi đọc tới, học nó cùng chữ vừa gặp.
Có mấy việc không cần làm: không cần học thuộc số thứ tự của bộ, không cần nhớ cả 214 bộ trước khi đọc, và không cần phân biệt từng biến thể hiếm chỉ có trong từ điển lớn. Những thứ đó sẽ tự đến khi khối lượng chữ đã đọc đủ nhiều.
Một tình huống quen: tra mãi không ra chữ trên hoành phi
Một người muốn đọc bức hoành phi ở nhà thờ họ, gặp chữ 德 đức, thấy phần bên phải có 心 tâm nên lật bộ tâm. Không ra. Chữ này thật ra thuộc bộ xích 彳, nét kép đứng bên trái. Lần thứ hai, người ấy gặp chữ 慶 khánh, lại nghĩ tới bộ tâm vì thấy 心 nằm giữa chữ, và lần này thì đúng, vì 慶 được xếp vào bộ tâm.
Hai chữ cùng có 心 nhưng nằm ở hai bộ khác nhau. Bài học rút ra là khi chưa chắc, hãy thử theo thứ tự: thành phần bên trái, thành phần trên đầu, thành phần bao ngoài, rồi mới tới phần dưới và phần giữa. Tra vẫn không ra thì chuyển sang bảng tra theo tổng số nét, có ở cuối hầu hết từ điển.
Tự kiểm sau hai tuần học
Nếu làm được phần lớn những việc dưới đây, bạn đã có đủ nền bộ thủ để bước sang tra từ điển và đọc câu ngắn:
- Nhìn 氵, 扌, 忄, 亻, 訁, 衤, 礻 và nói ngay tên bộ đầy đủ.
- Phân biệt 阝 bên trái và 阝 bên phải trong 陽 và 郡.
- Chỉ ra bộ của 情, 語, 花, 道, 間 mà không cần nhìn bảng.
- Biết rằng 事, 去, 以, 也 thuộc những bộ không gợi nghĩa và nên tra theo số nét khi không nhớ.
- Tra được một chữ lạ trong từ điển xếp theo bộ trong vòng vài phút.
Câu hỏi thường gặp
Có cần học thuộc cả 214 bộ thủ trước khi học chữ không?
Không cần. Học khoảng ba mươi bộ hay gặp cùng các dạng biến thể là đủ để tra từ điển và đọc câu ngắn. Các bộ còn lại học dần khi gặp trong chữ thật, như vậy nhớ lâu hơn nhiều.
Bộ thủ có luôn cho biết nghĩa của chữ không?
Không phải lúc nào cũng vậy. Với chữ chỉ sự vật cụ thể như sông, cây, tay, bộ thủ gợi hướng nghĩa khá tốt. Với chữ trừu tượng hoặc chữ bị xếp bộ vì tiện sắp xếp, bộ thủ hầu như không giúp đoán nghĩa.
Vì sao chữ giản thể có ít bộ hơn 214?
Nhiều từ điển giản thể dùng hệ bộ thủ đã điều chỉnh theo dạng chữ mới. Văn bản Hán Nôm của Việt Nam viết bằng chữ phồn thể, nên người đọc văn cổ vẫn nên lấy hệ 214 bộ làm gốc.
Nên học bộ thủ bằng âm Hán Việt hay bằng tên tiếng Trung?
Người Việt đọc văn cổ nên gọi bộ bằng âm Hán Việt như bộ thuỷ, bộ thủ, bộ tâm, vì từ điển Hán Việt và sách hướng dẫn trong nước đều gọi như vậy. Tên tiếng Trung chỉ cần khi dùng tài liệu của Trung Quốc.
Làm sao biết một chữ thuộc bộ nào khi có nhiều thành phần?
Thử lần lượt thành phần bên trái, trên đầu, bao ngoài, rồi tới dưới và giữa. Nếu vẫn không ra, dùng bảng tra theo tổng số nét ở cuối từ điển hoặc công cụ tra bằng cách vẽ chữ.