HocThuatCo.comHọc Thuật Cổ
Gửi thư
Chữ Hán cho người Việt

Chữ phồn thể và giản thể: người đọc văn cổ Việt Nam nên học loại nào

Văn bản Hán Nôm của Việt Nam viết bằng chữ phồn thể, nên đó là gốc phải học. Nhưng giản thể vẫn cần ở mức nhận mặt, và có những cặp chữ bị gộp làm một khi giản hoá, chuyển đổi máy là sai.

Chữ phồn thể và giản thể: người đọc văn cổ Việt Nam nên học loại nào

Nên học chữ phồn thể làm gốc. Văn bia, gia phả, sắc phong, sách in mộc bản của Việt Nam đều viết bằng chữ phồn thể cùng các dạng dị thể của nó. Giản thể chỉ cần biết ở mức nhận mặt để dùng tài liệu tham khảo in ở Trung Quốc đại lục.

Câu hỏi này hay gặp vì phần lớn giáo trình tiếng Trung đang bán ở Việt Nam dạy giản thể, và nhiều người bắt đầu học chữ Hán từ những giáo trình đó. Khi chuyển sang đọc văn cổ, họ gặp một bộ mặt chữ khác hẳn. Hiểu rõ quan hệ giữa hai hệ chữ giúp chuyển đổi bớt vất vả và tránh vài cái bẫy khó thấy.

Phồn thể, giản thể và chính thể khác nhau thế nào?

Chữ phồn thể là dạng chữ truyền thống, cũng là dạng của hầu hết sách vở Trung Hoa, Việt Nam, Triều Tiên, Nhật Bản trước thế kỷ XX. Chữ giản thể là hệ chữ được Trung Quốc đại lục chính thức hoá vào giữa thế kỷ XX, giảm số nét và gộp một số chữ để việc học chữ dễ hơn. Đài Loan, Hồng Kông vẫn dùng chữ truyền thống, ở Đài Loan thường gọi là chính thể.

Với người Việt, mốc thời gian là chuyện quan trọng: khi giản thể ra đời thì chữ Hán đã không còn là chữ hành chính ở Việt Nam từ lâu. Vì vậy mọi văn bản Hán Nôm của Việt Nam, từ tấm bia đời Lê tới tờ văn tự đời Nguyễn, đều không có chữ giản thể theo nghĩa hệ chữ chính thức. Có những dạng viết tắt trùng với giản thể, nhưng đó là dạng viết tay lưu hành từ trước, chuyện này nói ở phần sau.

Những cặp chữ hay gặp nhất

Phần lớn chữ giản thể giữ được bóng dáng chữ phồn thể, chỉ rút gọn bộ thủ hay một thành phần. Học từng cặp dưới đây là cách nhanh nhất để mắt quen với cả hai:

Phồn thểGiản thểÂm Hán ViệtKiểu giản hoá
學学họcrút gọn phần trên
國国quốcthay ruột bằng chữ 玉
書书thưtheo dáng chữ thảo
門门môntheo dáng chữ thảo
馬马mãtheo dáng chữ thảo
魚鱼ngưrút gọn phần dưới
東东đôngtheo dáng chữ thảo
長长trườngtheo dáng chữ thảo
見见kiếnrút gọn bộ
語语ngữbộ ngôn 訁 thành 讠
銀银ngânbộ kim thành 钅
經经kinhbộ mịch thành 纟, đổi thành phần phải
禮礼lễdùng lại dạng cổ
萬万vạndùng lại dạng cổ
義义nghĩagiữ một phần rất nhỏ
聖圣thánhthay thành phần

Có thể thấy giản thể không phải hệ chữ mới đặt ra từ đầu. Nhiều chữ lấy dáng từ chữ thảo, nhiều chữ dùng lại dạng cổ hoặc dạng tục tự đã lưu hành từ lâu. Đó là lý do người thạo phồn thể thường đọc giản thể khá nhanh, còn chiều ngược lại thì khó hơn nhiều.

Bẫy lớn nhất: những chữ bị gộp làm một

Vì sao gộp lại nguy hiểm?

Khi giản hoá, một số chữ phồn thể khác nhau, có khi khác nghĩa hoàn toàn, được gộp vào chung một chữ giản thể. Đọc giản thể thì không sao vì văn cảnh hiện đại đã rõ. Nhưng khi chuyển ngược từ giản thể sang phồn thể, máy phải đoán chữ gốc là chữ nào, và đoán sai rất thường xuyên.

Những cặp nên nhớ

後 hậu (sau) và 后 hậu (hoàng hậu) cùng thành 后. 雲 vân (mây) và 云 vân (nói rằng) cùng thành 云. 發 phát (phát ra) và 髮 phát (tóc) cùng thành 发. 乾 can (khô) và 幹 cán (thân, làm việc) gộp vào 干 can. 穀 cốc (lúa gạo) gộp vào 谷 cốc (hang núi). 裏 lý (bên trong) gộp vào 里 lý (làng, dặm). 餘 dư (thừa) gộp vào 余 dư (ta). 鬥 đấu (đánh nhau) gộp vào 斗 đấu (cái đấu đong).

Chữ giản thể trùng hình với một chữ cổ khác

Một dạng bẫy khác: chữ giản thể mang đúng hình của một chữ đã có từ trước với nghĩa khác. 叶 là giản thể của 葉 diệp (lá), nhưng trong sách cổ, 叶 lại là một dạng của 協 hiệp, như trong cách nói hiệp vận khi bàn về vần thơ. 只 là giản thể của 隻 chích (chiếc, con), nhưng 只 chỉ đã là một chữ riêng trong văn cổ. Gặp những chữ này trong văn bản phồn thể, hãy đọc theo nghĩa cổ trước, đừng mặc định đó là chữ giản thể lọt vào.

Cũng vì thế mà khi chép lại một văn bản cổ vào máy tính, nên chọn bộ gõ và phông chữ phồn thể ngay từ đầu, thay vì gõ giản thể rồi chuyển đổi. Gõ thẳng phồn thể mất công hơn một chút nhưng không đẻ ra lỗi ngầm.

Hệ quả khi đọc văn cổ

Một câu văn cổ có chữ 云 nghĩa là nói rằng, nếu ai đó đánh lại từ bản giản thể rồi cho máy chuyển sang phồn thể, có thể thành 雲 mây, câu văn hỏng nghĩa mà nhìn qua không ai thấy. Chữ 后 trong câu nói về hoàng hậu có thể bị đổi thành 後, thành chữ sau. Đây là lỗi hay gặp trong các bản chép lại văn bản cổ lan truyền trên mạng.

Khi nào thì cần biết giản thể?

Giản thể vẫn có chỗ dùng với người đọc văn cổ. Rất nhiều sách chú giải kinh điển, công trình văn tự học, từ điển lớn và cơ sở dữ liệu văn bản được xuất bản ở Trung Quốc đại lục bằng chữ giản thể. Không đọc được giản thể thì tự bỏ qua một kho tài liệu tham khảo lớn.

Mức cần đạt là nhận mặt, không phải viết. Biết các quy luật rút gọn bộ thủ như 訁 thành 讠, 金 thành 钅, 糸 thành 纟, 食 thành 饣, 門 thành 门, 貝 thành 贝, 見 thành 见, 車 thành 车 là đã đoán được một phần rất lớn. Những chữ đổi hình hoàn toàn thì học dần khi gặp.

Ngược lại, người đã học giản thể từ trước không cần bỏ đi làm lại. Hãy dùng chính vốn giản thể ấy làm cầu nối: mỗi lần gặp một chữ phồn thể, ghi kèm dạng giản thể đã biết, mắt sẽ tự lập bảng đối chiếu.

Chữ trong văn bản Việt Nam: không chỉ có phồn thể chuẩn

Mở một cuốn gia phả chép tay hay một tờ văn tự, bạn sẽ gặp những chữ trông giống giản thể: 礼 thay cho 禮, 万 thay cho 萬, 乱 thay cho 亂, 尽 thay cho 盡. Đó không phải chữ giản thể chen vào, mà là những dạng viết tắt, dạng cổ hoặc tục tự đã lưu hành trong chữ viết tay từ nhiều thế kỷ trước, cả ở Trung Hoa lẫn Việt Nam. Hệ giản thể về sau đã lấy lại một số dạng này.

Vì vậy, gặp những chữ như thế trong văn bản cổ, đừng vội kết luận văn bản là bản chép muộn hay bản giả. Kết luận về niên đại phải dựa vào nhiều dấu hiệu khác như giấy, mực, chữ húy, niên hiệu, nội dung.

Lộ trình chuyển từ giản thể sang đọc văn cổ

Nếu bạn đã học giản thể, có thể chuyển sang phồn thể theo trình tự sau mà không phải học lại từ đầu:

  1. Học các quy luật rút gọn bộ thủ ở trên theo chiều ngược lại, từ dạng giản ra dạng phồn.
  2. Học riêng những cặp chữ bị gộp, đặc biệt 后/後, 云/雲, 发/發/髮, 干/乾/幹, 里/裏.
  3. Chọn một văn bản ngắn in phồn thể có phiên âm, như một bài thơ chữ Hán của người Việt, đọc nhiều lần cho mắt quen.
  4. Chuyển cài đặt công cụ tra cứu sang ưu tiên chữ phồn thể.
  5. Không dùng công cụ chuyển đổi tự động cho văn bản cổ; nếu có dùng, phải soát lại từng chữ bị gộp.

Câu hỏi thường gặp

Văn bản Hán Nôm ở Việt Nam có chữ giản thể không?

Không có giản thể theo nghĩa hệ chữ chính thức, vì hệ này ra đời khi chữ Hán đã thôi là chữ hành chính ở Việt Nam. Một số dạng viết tắt trong văn bản cổ trùng với giản thể vì chúng là tục tự lưu hành từ lâu.

Đã học tiếng Trung giản thể thì có phải học lại từ đầu không?

Không. Vốn giản thể là cầu nối tốt. Chỉ cần học quy luật rút gọn bộ thủ theo chiều ngược lại, nhớ các cặp chữ bị gộp và đọc nhiều văn bản phồn thể cho mắt quen.

Có nên dùng công cụ chuyển giản thể sang phồn thể cho văn bản cổ không?

Không nên tin hoàn toàn. Nhiều chữ phồn thể khác nghĩa bị gộp vào một chữ giản thể, khi chuyển ngược máy phải đoán và hay đoán sai, như 云 nói rằng bị đổi thành 雲 mây.

Chính thể là gì?

Chính thể là tên gọi chữ Hán truyền thống ở Đài Loan, về cơ bản là chữ phồn thể. Từ điển và tài liệu dùng chính thể rất tiện cho người đọc văn cổ vì cùng dạng chữ với văn bản xưa.

Người mới hoàn toàn nên bắt đầu bằng phồn thể hay giản thể?

Nếu mục tiêu là đọc văn cổ Việt Nam, nên bắt đầu thẳng bằng phồn thể và chỉ học giản thể ở mức nhận mặt về sau. Học ngược lại cũng được, nhưng sẽ mất thêm một bước chuyển đổi.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

🧭
Bạn đang ở chặng nào của đường học vị?
Nhập chỗ bạn đang đứng và đích bạn nhắm — công cụ trả về số năm, chi phí và việc phải làm từng chặng.
Xem lộ trình của tôi →
Miễn phí, không cần tài khoản. Xem tất cả công cụ

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.

hoặc
[email protected]