Có, và lý do không nằm ở chữ đẹp. Viết đúng nét và đúng thứ tự giúp bạn đếm nét chính xác để tra từ điển, nhận ra chữ khi in mờ, và quan trọng nhất là đọc được chữ hành, chữ thảo vốn nối nét theo đúng thứ tự ấy.
Nhiều người học chữ Hán chỉ để đọc nên bỏ qua phần viết, coi đó là việc của người tập thư pháp. Đến khi cầm tờ văn tự mua bán ruộng hay trang gia phả chép tay, họ mới thấy chữ trên giấy chẳng giống chữ in trong sách chút nào. Phần lớn sự khác biệt ấy đến từ cách người viết nối nét, và cách nối lại đi theo thứ tự viết.
Tám nét cơ bản là những nét nào?
Mọi chữ Hán khải thư đều dựng từ một số nét cơ bản. Sách dạy viết ở Việt Nam thường gọi bằng tên thuần Việt như sau. Cách giảng truyền thống hay mượn chữ 永 vĩnh để minh hoạ, vì chữ này gom được gần đủ các kiểu nét, gọi là vĩnh tự bát pháp.
| Nét | Hình | Cách đi bút | Có trong chữ |
|---|---|---|---|
| Chấm | 丶 | đặt bút, nhấn nhẹ rồi nhấc, hơi chéo xuống phải | 主 chủ, 心 tâm |
| Ngang | 一 | đi từ trái sang phải, hơi nhích lên ở cuối | 三 tam, 王 vương |
| Sổ | 丨 | đi thẳng từ trên xuống | 十 thập, 中 trung |
| Phẩy | 丿 | từ trên phải kéo xuống trái, nhẹ dần | 人 nhân, 千 thiên |
| Mác | ㇏ | từ trên trái kéo xuống phải, đậm dần rồi thoát ngang | 人 nhân, 大 đại |
| Hất | ㇀ | từ dưới trái hất lên phải, ngắn và nhanh | 打 đả, 冰 băng |
| Móc | 亅 | cuối một nét sổ hay ngang thì bật lên thành móc | 小 tiểu, 水 thuỷ |
| Gập | 𠃍 | đổi hướng giữa chừng mà không nhấc bút | 口 khẩu, 日 nhật |
Nét gập và nét móc có nhiều biến thể ghép (ngang gập, sổ gập, ngang gập móc…). Người mới không cần học tên từng biến thể; chỉ cần nhớ một điều: chỗ nào bút đổi hướng mà không nhấc lên thì vẫn tính là một nét.
Bảy quy tắc thứ tự viết đủ dùng
Thứ tự viết không phải luật do ai đặt ra tuỳ ý. Nó là thói quen đi bút sao cho tay di chuyển ít nhất và chữ cân. Bảy quy tắc dưới đây phủ được đại đa số chữ hay gặp:
- Ngang trước, sổ sau: 十 thập viết nét ngang rồi mới tới nét sổ.
- Phẩy trước, mác sau: 人 nhân, 八 bát viết nét bên trái trước.
- Trên trước, dưới sau: 三 tam, 言 ngôn viết từ trên xuống.
- Trái trước, phải sau: 川 xuyên, 明 minh, 林 lâm viết phần trái trước.
- Ngoài trước, trong sau: 月 nguyệt, 同 đồng, 風 phong dựng khung rồi mới viết ruột.
- Vào nhà rồi mới đóng cửa: 日 nhật, 回 hồi, 國 quốc viết khung, viết ruột, nét ngang đáy viết cuối cùng.
- Giữa trước, hai bên sau: 小 tiểu, 水 thuỷ viết nét móc giữa trước rồi mới tới hai bên.
Khi một chữ có nhiều thành phần, áp dụng quy tắc cho từng thành phần theo thứ tự trái – phải hoặc trên – dưới. Chữ 語 ngữ viết hết bộ 訁 bên trái rồi mới tới 吾 ngô bên phải; trong 吾 lại viết 五 ngũ trên trước, 口 khẩu dưới sau.
Những ngoại lệ hay gặp
Gặp những chữ dưới đây mà làm theo bảy quy tắc một cách máy móc là sai thứ tự. Không nhiều, nhưng lại rơi vào những chữ rất hay gặp.
Bộ sước và bộ dẫn viết sau cùng
Với 辶 trong 道 đạo, 進 tiến, 送 tống, hay 廴 trong 建 kiến, phần ruột viết trước, nét ôm góc trái dưới viết cuối cùng, dù nó nằm bên trái. Đây là ngoại lệ lớn nhất của quy tắc trái trước phải sau.
Nét sổ xuyên qua viết cuối
Chữ 中 trung, 車 xa, 事 sự có một nét sổ chạy xuyên qua cả chữ; nét này để dành viết sau cùng, vì viết sớm thì không biết nó cần dài tới đâu.
Khung mở bên phải
Với khung 匚 như trong 區 khu, viết nét ngang trên, rồi phần ruột, rồi mới tới nét gập ở góc trái dưới. Khung mở phía trên như 凵 trong 凶 hung thì viết ruột trước, khung sau.
Vì sao thứ tự viết quyết định việc đọc chữ thảo?
Chữ hành và chữ thảo là chữ viết nhanh. Người viết không nhấc bút giữa các nét, mà nối nét trước với nét sau bằng một đường mảnh. Vì họ viết theo đúng thứ tự đã học từ nhỏ, đường nối ấy luôn đi từ điểm cuối nét này sang điểm đầu nét kế tiếp theo thứ tự chuẩn. Một chữ 國 quốc viết thảo trông như một nét xoắn, nhưng ai biết thứ tự khung trước, ruột sau, đóng đáy cuối thì lần ra được.
Người không biết thứ tự viết nhìn chữ thảo chỉ thấy những vòng rối. Người biết thì đọc được đường đi của bút, như đọc lại chuyển động của tay người xưa. Đó là lý do nhiều thầy dạy Hán Nôm bắt học trò tập viết khải thư đúng thứ tự trước khi cho đọc giấy tờ viết tay, dù mục tiêu chỉ là đọc.
Thứ tự viết cũng giúp ở chỗ ít ai để ý: nhận chữ khi giấy rách, mực nhoè. Biết chữ được dựng theo trình tự nào, bạn đoán được phần bị mất thường là những nét nào và đối chiếu với từ điển dễ hơn.
Đếm nét đúng để tra từ điển
Từ điển xếp theo bộ yêu cầu đếm số nét của phần còn lại sau khi trừ bộ; bảng tra chữ khó yêu cầu đếm tổng số nét. Đếm sai một nét là lật sang trang khác. Những chỗ hay đếm sai đều liên quan tới nét gập: 口 khẩu là ba nét chứ không phải bốn, vì nét ngang trên và nét sổ phải là một nét gập liền; 己 kỷ và 弓 cung đều là ba nét.
Một bẫy khác là bộ viết gọn. Một số từ điển đếm 艹 theo dạng gọn, một số đếm theo dạng đầy đủ 艸; 辶 cũng vậy. Tra không ra thì đừng vội kết luận chữ không có trong từ điển, hãy thử cộng hoặc trừ một hai nét. Từ điển nào cũng có lời dẫn ở đầu sách giải thích cách đếm, đọc kỹ trang đó một lần là đỡ mất công về sau.
Tập viết thế nào khi mục tiêu chỉ là đọc?
Dùng giấy ô vuông có đường chéo. Loại giấy kẻ ô có hai đường chéo, hay gọi là ô chữ mễ, giúp đặt các thành phần đúng chỗ. Không cần mua giấy đặc biệt, tự kẻ bằng bút chì cũng được.
Bút chì hoặc bút bi trước, bút lông sau. Mục tiêu là nhớ thứ tự, không phải nét đẹp. Bút cứng giúp tập trung vào trình tự; khi muốn đọc chữ viết tay cổ thì nên thử bút lông vài buổi để hiểu vì sao nét có đầu đậm đuôi nhọn.
Mỗi chữ mới viết ba đến năm lần, vừa viết vừa đọc âm. Viết nhiều hơn thế cho một chữ ít khi đem lại thêm gì. Nên chép chữ trong một câu ngắn có nghĩa thay vì chép rời từng chữ.
Không cần đều tay như chữ mẫu. Người đọc văn cổ không cần chữ đẹp. Nét xiêu vẹo mà đúng thứ tự vẫn tốt hơn nét đẹp mà sai thứ tự.
Lỗi hay gặp và cách sửa
Bốn lỗi dưới đây gần như ai mới học cũng mắc:
- Viết 口 thành bốn nét rời: tách nét ngang trên khỏi nét sổ phải. Sửa bằng cách tập nét gập liền một hơi.
- Viết bộ 辶 trước rồi mới viết phần ruột, làm chữ 道 đạo lệch hẳn sang phải. Nhớ rằng nét ôm góc luôn viết sau.
- Viết nét sổ xuyên của 中 từ đầu, rồi phải gò ô vuông cho vừa. Để nét xuyên viết cuối.
- Bỏ qua thứ tự khi chép nhanh, rồi tới lúc đọc chữ thảo không lần ra đường bút. Chậm mà đúng ở giai đoạn đầu sẽ đỡ rất nhiều công về sau.
Câu hỏi thường gặp
Chỉ muốn đọc văn cổ thì có cần tập viết chữ Hán không?
Có, nhưng không cần viết đẹp. Tập viết đúng thứ tự giúp nhớ mặt chữ, đếm nét chính xác để tra từ điển và đọc được chữ hành, chữ thảo trong giấy tờ viết tay, vốn nối nét theo đúng thứ tự ấy.
Thứ tự viết ở Việt Nam có khác Trung Quốc hay Nhật Bản không?
Phần lớn giống nhau vì cùng dựa trên thói quen đi bút của khải thư. Có một số chữ mà sách giáo khoa từng nước dạy khác nhau đôi chút; với người đọc văn cổ, những khác biệt nhỏ đó không ảnh hưởng tới việc tra cứu.
Nét gập tính là một hay hai nét?
Tính là một nét, vì bút đổi hướng mà không nhấc lên. Vì vậy 口 khẩu có ba nét, 日 nhật có bốn nét. Đếm nhầm nét gập là nguyên nhân hay gặp nhất khi tra từ điển theo số nét không ra.
Vĩnh tự bát pháp là gì?
Đó là cách giảng truyền thống dùng chữ 永 vĩnh để minh hoạ các kiểu nét cơ bản của khải thư, vì chữ này gom được gần đủ chấm, ngang, sổ, móc, hất, phẩy, mác. Nó là công cụ dạy nét, không phải quy tắc thứ tự viết.
Nên tập viết bằng bút lông ngay từ đầu không?
Không bắt buộc. Người học để đọc nên dùng bút chì hoặc bút bi để nhớ thứ tự trước; khi bắt đầu đọc chữ viết tay cổ thì tập thêm vài buổi bút lông để hiểu hình dạng nét đậm nhạt.