Lục thư là sáu phép cấu tạo và sử dụng chữ Hán: tượng hình, chỉ sự, hội ý, hình thanh, chuyển chú và giả tá. Biết sáu phép này, bạn nhớ chữ theo logic thay vì nhớ hình trần, và hiểu vì sao phần lớn chữ Hán có một phần chỉ nghĩa, một phần chỉ âm.
Cách phân loại này gắn với Thuyết văn giải tự của Hứa Thận đời Đông Hán, bộ sách giải thích chữ Hán theo cấu tạo được giới văn tự học coi là kinh điển. Người học hôm nay không cần đọc bộ sách ấy, nhưng dùng được khung sáu phép của nó để sắp xếp trí nhớ.
Sáu phép trong một bảng
Bảng dưới đây tóm tắt từng phép, ví dụ quen thuộc và cách tận dụng khi học:
| Phép | Cách tạo | Ví dụ | Dùng khi học |
|---|---|---|---|
| Tượng hình | vẽ lại hình sự vật | 日 nhật, 月 nguyệt, 山 sơn, 木 mộc, 人 nhân | nhớ hình gốc, số lượng ít nhưng là nền cho mọi chữ khác |
| Chỉ sự | dùng dấu hiệu chỉ một ý trừu tượng | 上 thượng, 下 hạ, 本 bản, 末 mạt, 刃 nhận | để ý vị trí của nét đánh dấu |
| Hội ý | ghép hai, ba chữ có nghĩa thành ý mới | 明 minh, 休 hưu, 林 lâm, 森 sâm | tìm quan hệ nghĩa giữa các phần |
| Hình thanh | ghép phần chỉ nghĩa với phần chỉ âm | 江 giang, 河 hà, 銅 đồng, 問 vấn | nhận nghĩa phù để đoán nghĩa, thanh phù để đoán âm |
| Chuyển chú | các chữ cùng gốc nghĩa giải thích lẫn nhau | 考 khảo, 老 lão | ít ảnh hưởng tới việc đọc hằng ngày |
| Giả tá | mượn chữ sẵn có để ghi một từ đồng âm | 來 lai, 自 tự, 而 nhi | đừng suy nghĩa hiện dùng từ hình chữ |
Tượng hình và chỉ sự: nền móng nhỏ nhưng quan trọng
Tượng hình
Chữ tượng hình vẽ lại sự vật: 日 nhật vốn là vòng tròn có chấm giữa, 月 nguyệt là vầng trăng khuyết, 山 sơn là ba ngọn núi, 木 mộc là thân cây có cành và rễ. Qua nhiều lần đổi kiểu chữ, hình vẽ đã vuông vức lại, nhưng nhìn kỹ vẫn thấy bóng dáng ban đầu.
Chữ tượng hình không nhiều, nhưng chúng lại là bộ thủ và thành phần của hàng nghìn chữ khác. Học kỹ khoảng năm mươi chữ tượng hình hay gặp là đầu tư có lãi nhất ở giai đoạn đầu.
Chỉ sự
Với ý không vẽ được, người xưa thêm một dấu hiệu. 本 bản là chữ 木 mộc có vạch ở gốc, nghĩa là gốc rễ; 末 mạt có vạch ở ngọn, nghĩa là ngọn, phần cuối. 刃 nhận là chữ 刀 đao có chấm ở lưỡi, chỉ lưỡi dao. Cặp 本 và 末 rất hay gặp trong văn Nho, như cụm 本末 bản mạt, gốc và ngọn.
Hội ý: ghép nghĩa để ra nghĩa mới
Chữ hội ý ghép hai hoặc ba chữ có nghĩa. 明 minh là mặt trời cạnh mặt trăng, nghĩa là sáng. 休 hưu là người tựa vào cây, nghĩa là nghỉ. 林 lâm hai cây là rừng, 森 sâm ba cây là rừng rậm, um tùm. 信 tín ghép 人 nhân với 言 ngôn, thường được giảng là lời của người phải giữ, tức là tin.
Hội ý là phép dễ nhớ nhất vì có sẵn câu chuyện, nhưng cũng là chỗ dễ trượt sang lối giải chữ tuỳ tiện. Không phải chữ nào có hai phần mang nghĩa cũng là hội ý; rất nhiều chữ trông như hội ý thật ra là hình thanh, một phần chỉ âm chứ không chỉ nghĩa.
Hình thanh: phép tạo ra phần lớn chữ Hán
Chữ hình thanh có hai phần: nghĩa phù cho biết trường nghĩa, thanh phù cho biết cách đọc. 江 giang có 氵 chỉ nước và 工 công gợi âm; 河 hà có 氵 và 可 khả; 銅 đồng có 金 kim chỉ kim loại và 同 đồng chỉ âm; 問 vấn có 口 khẩu chỉ lời và 門 môn chỉ âm. Giới nghiên cứu đều nhận thấy phép hình thanh chiếm phần lớn chữ Hán, và chữ đặt ra về sau càng chủ yếu theo phép này.
Với người Việt, thanh phù còn có một ích lợi riêng: nhiều khi nó gợi được âm Hán Việt. 方 phương là thanh phù trong 芳 phương, 房 phòng, 訪 phỏng; 包 bao trong 抱 bão, 飽 bão, 胞 bào. Âm không giữ nguyên hẳn, nhưng đủ gần để giúp nhớ. Có điều thanh phù cũng có lúc lệch xa: 也 dã nằm trong 地 địa, 池 trì, 他 tha mà âm chẳng còn mấy liên quan. Thanh phù là gợi ý, không phải quy tắc.
Chuyển chú và giả tá: cách dùng chữ hơn là cách tạo chữ
Chuyển chú là phép khó hiểu nhất trong sáu phép, và ngay từ xưa đã có nhiều cách giải thích khác nhau. Ví dụ kinh điển là cặp 考 khảo và 老 lão: cùng một gốc nghĩa, hình gần nhau, có thể dùng để giải nghĩa lẫn nhau. Nhiều học giả đời sau cho rằng chuyển chú và giả tá thuộc về cách dùng chữ, còn bốn phép kia mới là cách tạo chữ.
Giả tá thì ảnh hưởng trực tiếp tới việc đọc. Một từ có âm mà chưa có chữ, người ta mượn một chữ đồng âm sẵn có để ghi. 來 lai được nhiều nhà nghiên cứu giải thích vốn là hình cây lúa mạch, bị mượn để ghi nghĩa đến; 自 tự vốn vẽ cái mũi, bị mượn để ghi nghĩa tự mình, từ; 而 nhi thường được giải là hình râu, bị mượn làm hư từ nối câu. Nghĩa mượn dần chiếm chỗ nghĩa gốc.
Hệ quả là gặp hư từ trong văn ngôn như 而, 其 kỳ, 之 chi, đừng cố giải nghĩa từ hình chữ. Chúng là chữ mượn, nghĩa của chúng nằm ở chức năng ngữ pháp trong câu.
Chiết tự và văn tự học: hai việc khác nhau
Chiết tự dân gian là lối chơi chữ có giá trị văn chương. Người xưa tách chữ ra từng phần để làm câu đố, câu đối, giai thoại. Cách ấy hay, nhưng mục đích là tạo nghĩa mới, không phải truy nguyên nghĩa cũ.
Văn tự học dựa vào dạng chữ cổ. Muốn biết một chữ thực sự được tạo theo phép nào, giới nghiên cứu xét dạng chữ trên giáp cốt, đồ đồng, thẻ tre, không chỉ nhìn chữ khải hiện nay. Hình chữ hiện nay nhiều khi đã biến đổi tới mức không còn thấy cấu tạo ban đầu.
Ví dụ chữ 武 vũ. Chữ này gồm 止 chỉ và 戈 qua. Sách xưa có câu 止戈為武, tức dừng binh đao mới là võ, một cách giảng mang ý luân lý rất được ưa chuộng. Nhiều nhà văn tự học hiện đại lại cho rằng 止 ở đây vốn là hình bàn chân, nghĩa là cầm giáo mà đi. Hai cách hiểu cùng tồn tại; người đọc nên biết đó là hai lớp nghĩa khác nhau.
Giữ thận trọng khi viết bài, giảng lại. Khi giải thích cấu tạo chữ cho người khác, nên nói rõ đó là cách giảng truyền thống hay kết luận của văn tự học, và tránh trình bày một cách hiểu dân gian như sự thật duy nhất.
Thử phân tích mười chữ để tự kiểm
Lấy mười chữ dưới đây, với mỗi chữ hãy đoán nó thuộc phép nào, tách thành phần, rồi tra từ điển để đối chiếu. Sai cũng không sao, mục đích là tập thói quen nhìn cấu tạo:
- 日 nhật và 山 sơn: tượng hình, nhận hình gốc.
- 上 thượng và 末 mạt: chỉ sự, tìm nét đánh dấu.
- 休 hưu và 林 lâm: hội ý, nói được quan hệ nghĩa giữa các phần.
- 河 hà và 銅 đồng: hình thanh, chỉ ra nghĩa phù và thanh phù.
- 來 lai và 而 nhi: giả tá, nghĩa hiện dùng khác hẳn hình gốc.
Khi đã quen, mỗi chữ mới gặp nên được ghi kèm một dòng ngắn về cấu tạo. Dòng ghi chú ấy là móc để trí nhớ bám vào, có giá trị hơn nhiều lần chép đi chép lại.
Câu hỏi thường gặp
Lục thư do ai đặt ra?
Tên gọi lục thư đã xuất hiện trong sách cổ như Chu lễ, còn cách định nghĩa và ví dụ cho từng phép được biết đến rộng rãi nhất qua lời tựa Thuyết văn giải tự của Hứa Thận đời Đông Hán. Đến nay đây vẫn là khung phân loại quen thuộc nhất.
Phép nào chiếm nhiều chữ Hán nhất?
Phép hình thanh. Phần lớn chữ Hán được tạo bằng cách ghép một phần chỉ nghĩa với một phần chỉ âm, nên người học nên tập nhận ra hai phần này ngay từ đầu.
Thanh phù có giúp đoán đúng âm Hán Việt không?
Khá thường xuyên nhưng không phải luôn luôn. Âm có thể giữ nguyên, đổi thanh điệu, đổi phụ âm đầu hoặc lệch xa hẳn, như 也 dã trong 地 địa. Đoán xong vẫn phải tra từ điển.
Chiết tự có phải cách học chữ Hán đúng không?
Chiết tự giúp nhớ vui nhưng không phải cách giải thích nguồn gốc chữ. Nhiều chữ hiện nay đã biến đổi hình dạng, tách ra rồi ghép nghĩa dễ dẫn tới hiểu sai. Nên dùng như mẹo nhớ, không coi là kiến thức.
Có cần đọc Thuyết văn giải tự để học chữ Hán không?
Người mới thì không cần. Từ điển Hán Việt phổ thông đã đủ cho việc đọc văn cổ. Khi muốn đi sâu vào văn tự học hay chú giải kinh điển, lúc đó mới cần tìm đến Thuyết văn và các bản chú giải của nó.