Nhiều chữ Hán có hai hoặc ba âm Hán Việt, và mỗi âm gắn với một nghĩa hoặc một từ loại riêng. Chữ 行 đọc hành khi là đi, làm; hàng khi là hàng lối; hạnh khi là nết na. Đọc sai âm thường kéo theo hiểu sai nghĩa.
Người mới học thường gặp chuyện này qua những chỗ quen tai mà không để ý: hiếu học nhưng hảo hán, ác nhân nhưng hiếu ố, trường giang nhưng hiệu trưởng. Đó đều là một chữ đọc hai cách. Khi đọc văn cổ, nhận ra chữ nhiều âm và chọn đúng âm là bước đầu tiên của việc hiểu đúng câu.
Những chữ nhiều âm hay gặp nhất
Bảng dưới đây gom các chữ nhiều âm có tần suất cao trong văn ngôn và trong từ Hán Việt người Việt đang dùng:
| Chữ | Âm | Nghĩa của từng âm | Ví dụ quen |
|---|---|---|---|
| 行 | hành / hàng / hạnh | đi, làm / hàng lối, nghề / nết na | hành động, ngân hàng, đức hạnh |
| 樂 | lạc / nhạc / nhạo | vui / âm nhạc / ưa thích | an lạc, âm nhạc, nhạo sơn nhạo thuỷ |
| 長 | trường / trưởng | dài / lớn, người đứng đầu | trường giang, hiệu trưởng |
| 重 | trọng / trùng | nặng, coi trọng / lặp lại | trọng yếu, trùng dương |
| 好 | hảo / hiếu | tốt / ưa thích | hảo hán, hiếu học |
| 惡 | ác / ố | xấu, dữ / ghét | ác nhân, hiếu ố |
| 易 | dịch / dị | đổi, thay / dễ | giao dịch, dung dị |
| 說 | thuyết / thuế / duyệt | nói, giảng / thuyết phục, du thuyết / vui | học thuyết, bất diệc duyệt hồ |
| 朝 | triều / triêu | triều đình, chầu / buổi sáng | triều đình, triêu tịch |
| 傳 | truyền / truyện | trao lại / sách ghi chép, tiểu sử | truyền thụ, liệt truyện |
| 將 | tướng / tương | tướng cầm quân / sắp, sẽ | tướng quân, tương lai |
| 降 | giáng / hàng | xuống, hạ xuống / chịu thua | giáng chức, đầu hàng |
| 少 | thiểu / thiếu | ít / trẻ | thiểu số, thiếu niên |
| 度 | độ / đạc | mức, lần / đo lường | nhiệt độ, trắc đạc |
Vì sao một chữ lại có nhiều âm?
Lý do phổ biến nhất là đổi âm để đổi nghĩa hay đổi từ loại. Trong tiếng Hán cổ, cùng một chữ có thể vừa là tính từ vừa là động từ, và người ta phân biệt bằng cách đổi thanh điệu khi đọc. Giới ngữ văn gọi hiện tượng này là phá âm. Âm Hán Việt kế thừa sự phân biệt ấy: 好 hảo là tốt (tính từ), 好 hiếu là ưa thích (động từ); 惡 ác là xấu, 惡 ố là ghét.
Lý do thứ hai là chữ được mượn để ghi một từ khác. Chữ 說 thuyết là nói; nhưng trong văn cổ, nó còn được dùng để ghi từ duyệt nghĩa là vui, về sau người ta mới đặt riêng chữ 悅 duyệt. Vì vậy câu mở đầu Luận ngữ phải đọc là duyệt chứ không phải thuyết.
Lý do thứ ba là nghĩa phát triển thành hai nhánh khác hẳn nhau và mỗi nhánh giữ một âm. 長 trường là dài; người lớn tuổi, người đứng đầu thì đọc trưởng. 傳 truyền là trao lại; cái được trao lại thành sách thì đọc truyện.
Đọc thử vài câu kinh điển quen thuộc
Chữ nhiều âm dễ thấy nhất trong những câu đã thành quen thuộc. Dưới đây là vài câu ngắn trong Luận ngữ, kèm phiên âm và nghĩa:
不亦說乎
Câu đầu Luận ngữ: 學而時習之,不亦說乎 – học nhi thời tập chi, bất diệc duyệt hồ. Học mà thường ôn tập, chẳng cũng vui sao. Chữ 說 ở đây đọc duyệt, nghĩa là vui. Đọc thành thuyết thì câu thành học rồi ôn tập, chẳng cũng nói sao, vô nghĩa.
知者樂水,仁者樂山
Câu trong thiên Ung dã của Luận ngữ: 知者樂水,仁者樂山 – trí giả nhạo thuỷ, nhân giả nhạo sơn. Người trí ưa nước, người nhân ưa núi. Chữ 樂 làm động từ ưa thích nên sách cũ ghi âm nhạo. Trong thực tế, nhiều người quen đọc lạc, nhưng hiểu đúng thì phải là ưa thích chứ không phải vui.
三人行,必有我師焉
Câu trong thiên Thuật nhi: 三人行,必有我師焉 – tam nhân hành, tất hữu ngã sư yên. Ba người cùng đi, ắt có người làm thầy ta. Chữ 行 ở đây là đi, nên đọc hành.
唯仁者能好人,能惡人
Câu trong thiên Lý nhân: 唯仁者能好人,能惡人 – duy nhân giả năng hiếu nhân, năng ố nhân. Chỉ người có đức nhân mới biết yêu người, biết ghét người. Hai chữ 好 và 惡 đều là động từ, nên đọc hiếu và ố. Đọc hảo nhân, ác nhân thì câu thành người tốt, người ác, sai hẳn ý.
Quy luật giúp chọn âm nhanh
Xét từ loại trước. Nếu chữ đứng sau chủ ngữ và trước tân ngữ, làm động từ, thì nghĩ tới âm động từ: hiếu, ố, nhạo. Nếu chữ đứng trước danh từ để bổ nghĩa, nghĩ tới âm tính từ: hảo, ác.
Xét chữ đi kèm. Âm thường đi theo cụm cố định. Gặp 長 đi với 老 lão, 兄 huynh thì nghiêng về trưởng; gặp 長 đi với 江 giang, 久 cửu thì là trường.
Xét loại văn bản. Trong sử sách, 傳 đứng làm tên thiên thường đọc truyện, như liệt truyện. Trong câu kể việc trao lại thì đọc truyền.
Khi còn phân vân, tra từ điển phân âm. Từ điển Hán Việt tốt ghi rõ từng âm, mỗi âm một nhóm nghĩa. Đọc hết các nhóm rồi thử vào câu.
Những chữ nhiều âm ẩn trong hư từ và từ rất thường
Ngoài những chữ quen trong bảng, có vài chữ nhiều âm lẩn trong hư từ và động từ rất phổ biến, ít ai để ý:
為 vi và vị
Chữ 為 (cũng viết 爲) đọc vi khi nghĩa là làm, là, trở thành; đọc vị khi nghĩa là vì, cho, giúp. Cụm 為人 đọc vi nhân khi nói về cách làm người, nhưng 為國 đọc vị quốc khi nghĩa là vì nước. Đây là một trong những chữ xuất hiện dày đặc nhất trong văn ngôn, nên chọn sai âm thì cả câu lệch nghĩa.
與 dữ và dự
Chữ 與 đọc dữ khi là giới từ, liên từ nghĩa là với, cùng, hoặc động từ nghĩa là cho; đọc dự khi nghĩa là tham dự, dự vào. Trong văn cổ, phần lớn trường hợp là dữ.
中 trung và trúng
Chữ 中 đọc trung khi là giữa, bên trong; đọc trúng khi là động từ, nghĩa là bắn trúng, đúng vào. Tiếng Việt hiện nay vẫn giữ cả hai: trung tâm và trúng tuyển là cùng một chữ.
見 kiến và hiện
Chữ 見 đọc kiến khi là thấy; trong văn cổ có khi đọc hiện, nghĩa là hiện ra, lộ ra, trước khi chữ 現 hiện được dùng phổ biến. Gặp 見 ở chỗ mà nghĩa thấy không thông, hãy thử nghĩa hiện ra.
Âm đọc quen và âm ghi trong sách cũ
Có những trường hợp âm ghi trong từ điển và âm người Việt quen đọc không trùng nhau. Câu trí giả nhạo thuỷ ở trên là ví dụ: nhiều người đọc lạc thuỷ, lạc sơn, và cách đọc này đã khá phổ biến. Ngoài ra còn có những âm đọc khác nhau theo vùng, như chính và chánh, vũ và võ, hoa và huê; một số trường hợp liên quan tới lệ kiêng tên huý thời xưa.
Với người đọc văn cổ, cách xử lý hợp lý là: khi phiên âm để học và để hiểu, theo âm từ điển phân biệt theo nghĩa; khi trích dẫn câu đã thành quen trong tiếng Việt, có thể giữ cách đọc quen nhưng nên ghi chú nghĩa đúng. Điều quan trọng không phải là cãi nhau về âm, mà là không để âm quen làm sai nghĩa.
Lỗi hay gặp khi phiên âm
Những lỗi dưới đây xuất hiện khá nhiều trong các bản phiên âm lan truyền:
- Đọc 說 thành thuyết ở mọi chỗ, kể cả khi chữ mang nghĩa vui.
- Đọc 好 thành hảo trong cụm làm động từ như hiếu học, hiếu sắc.
- Đọc 長 thành trường trong cụm chỉ người lớn tuổi hoặc người đứng đầu.
- Đọc 朝 thành triều trong cụm chỉ buổi sáng như triêu tịch.
- Thấy 行 là đọc hành, bỏ qua nghĩa hàng lối và nghĩa đức hạnh.
Mỗi lần phiên âm xong một đoạn, hãy rà lại riêng những chữ trong bảng đầu bài. Chỉ mất vài phút mà tránh được phần lớn lỗi.
Câu hỏi thường gặp
Chữ 樂 trong câu trí giả nhạo thuỷ đọc nhạo hay lạc?
Sách cũ và từ điển phân âm ghi nhạo vì chữ là động từ, nghĩa ưa thích. Nhiều người quen đọc lạc. Có thể giữ cách đọc quen khi trích dẫn, nhưng cần hiểu nghĩa là ưa thích, không phải vui.
Vì sao câu đầu Luận ngữ đọc bất diệc duyệt hồ?
Vì chữ 說 trong câu này được dùng để ghi từ duyệt, nghĩa là vui. Về sau người ta đặt riêng chữ 悅 cho nghĩa này. Đọc thuyết thì câu thành chẳng cũng nói sao, mất nghĩa.
Phá âm là gì?
Phá âm là hiện tượng đổi âm đọc, thường là đổi thanh điệu, để phân biệt nghĩa hoặc từ loại của cùng một chữ. Ví dụ 好 hảo là tốt, đọc hiếu là ưa thích; 惡 ác là xấu, đọc ố là ghét.
Làm sao biết một chữ có nhiều âm?
Tra từ điển Hán Việt có phân âm như Hán Việt tự điển của Thiều Chửu. Chữ nhiều âm thường được ghi rõ từng âm kèm nhóm nghĩa riêng. Nên đọc hết mục từ chứ đừng dừng ở âm đầu tiên.
Có cần học thuộc hết chữ nhiều âm không?
Không cần học thuộc hết. Khoảng vài chục chữ nhiều âm hay gặp trong văn ngôn là đủ cho phần lớn văn bản. Các chữ khác sẽ lộ ra khi tra từ điển và thấy mục từ có nhiều âm.