Chữ kiêng huý là chữ trùng với tên vua, tên người trong hoàng tộc hoặc tên tổ tiên mà người viết phải tránh. Cách tránh thường gặp là viết bớt nét, thay bằng chữ khác cùng nghĩa, đổi cách đọc, hoặc để trống. Nhận ra chúng giúp đọc đúng chữ và đoán thời điểm văn bản được chép.
Khi chép văn bia, gia phả hay sách cổ, người mới hay gặp những chữ trông quen mà thiếu một nét, hoặc một chữ lạ đứng ở chỗ mà theo nghĩa phải là chữ khác. Thường đó không phải lỗi của người viết, mà là dấu vết của lệ kiêng huý. Biết lệ này, bạn tránh được việc sửa chữ sai và có thêm một manh mối văn bản học đáng giá.
Vì sao người xưa phải kiêng huý?
Trong văn hoá Nho giáo, gọi thẳng tên của bậc trên bị coi là bất kính. Tên riêng của vua (tên huý), của các vị trong hoàng tộc được tôn phong, và trong phạm vi gia đình là tên ông bà, cha mẹ, đều không được viết hay đọc một cách tuỳ tiện. Triều đình có lúc ban hành danh sách chữ phải kiêng; trong làng, dòng họ cũng có lệ kiêng tên các vị được thờ.
Mức độ kiêng thay đổi theo triều đại và theo từng thời. Có thời rất nghiêm, chữ trùng tên vua phải đổi cả trong tên đất, tên người; có thời nới hơn. Vì thế, cùng một chữ có thể bị kiêng trong văn bản thời này nhưng viết bình thường trong văn bản thời khác. Bài này không liệt kê chữ huý của từng triều, mà chỉ cách nhận ra và xử lý khi gặp.
Bốn cách kiêng huý thường gặp
Người viết xưa có nhiều cách tránh chữ huý. Bốn cách dưới đây là những cách bạn sẽ gặp thường xuyên nhất khi đọc văn bản Hán Nôm.
| Cách kiêng | Làm thế nào | Dấu hiệu khi đọc | Cách xử lý khi chép |
|---|---|---|---|
| Bớt nét (khuyết bút) | Viết thiếu một hoặc vài nét của chữ | Chữ quen nhưng thiếu nét cuối hoặc một nét ngang | Chép theo chữ chuẩn, ghi chú là chữ khuyết bút |
| Đổi chữ | Thay bằng chữ khác cùng nghĩa hoặc gần âm | Chữ lạ đứng ở chỗ nghĩa câu không khớp | Giữ nguyên chữ trên văn bản, ghi chú chữ gốc bị thay |
| Đổi âm đọc | Viết đúng chữ nhưng đọc trại đi | Không thấy trên mặt chữ, chỉ thấy trong cách đọc truyền lại | Phiên âm theo âm chuẩn, chú thích âm đọc kiêng |
| Thêm, bớt bộ hoặc để trống | Thay đổi bộ phận chữ, hoặc bỏ ô trống, ghi chữ huý | Ô trống trong câu, hoặc chữ nhỏ ghi bên cạnh | Đánh dấu vị trí trống, không tự điền |
Cách thứ ba khó nhận nhất vì không để lại dấu trên giấy. Ví dụ hay được nhắc là chữ Hoa (華) bị đọc trại thành Huê dưới thời Nguyễn do kiêng tên một bà hoàng hậu; tên tỉnh Thanh Hoa đổi thành Thanh Hoá cũng gắn với lệ kiêng này. Dấu vết của cách đọc kiêng còn lưu lại trong tiếng Việt đến nay.
Nhận ra chữ kiêng huý khi đang đọc
Chữ thiếu nét lặp đi lặp lại
Một chữ thiếu nét một lần có thể là do mòn, do mực nhoè. Nhưng nếu cùng một chữ thiếu đúng một nét ở mọi vị trí trong văn bản, trong khi các chữ xung quanh đầy đủ, khả năng cao đó là khuyết bút cố ý. Hãy đếm xem chữ đó xuất hiện bao nhiêu lần và lần nào cũng thiếu hay không.
Chữ đứng sai nghĩa
Nếu câu văn vốn là một thành ngữ hoặc câu kinh điển quen thuộc mà có một chữ bị thay bằng chữ đồng nghĩa, nhiều khả năng đó là chữ thay để kiêng. Đối chiếu với câu gốc trong sách kinh điển là cách kiểm tra nhanh.
Tên đất, tên người khác với nguồn khác
Cùng một làng, một nhân vật nhưng văn bản này viết một chữ, văn bản kia viết chữ khác cùng nghĩa: đó có thể là dấu vết đổi tên do kiêng huý. Ghi cả hai cách viết vào sổ, đừng vội cho một bên là sai.
Dùng kiêng huý để đoán niên đại: được đến đâu?
Nguyên tắc cơ bản là: nếu một văn bản kiêng tên của một vị vua, văn bản ấy nhiều khả năng được viết hoặc được chép lại từ thời vị vua ấy trở về sau. Ngược lại, nếu một chữ đáng lẽ phải kiêng mà lại viết đầy đủ, văn bản có thể đã có trước khi lệ kiêng chữ đó ra đời, hoặc được chép vào lúc lệ kiêng đã nới.
Tuy nhiên, kiêng huý chỉ là manh mối, không phải bằng chứng một mình đủ sức. Có ba lý do. Thứ nhất, một bản chép đời sau có thể giữ nguyên cách kiêng của bản gốc, nên mang dấu kiêng của thời cũ. Thứ hai, người chép đời sau có thể thêm cách kiêng của thời mình vào một văn bản cổ hơn. Thứ ba, mức độ tuân thủ khác nhau giữa văn bản triều đình và văn bản làng xã, giữa người có học và người chép thuê.
Vì vậy, người làm văn bản học thường kết hợp kiêng huý với các dấu hiệu khác: niên hiệu ghi trong văn bản, chất liệu giấy, lối chữ, kiểu trình bày, nội dung nhắc tới sự kiện nào. Khi viết ghi chú, hãy dùng cách nói thận trọng như “văn bản có kiêng chữ…, gợi ý được chép từ thời… trở về sau”, thay vì kết luận chắc chắn.
Tình huống thực tế khi chép một cuốn gia phả
Một chữ thiếu nét ở tên đất
Một nhóm con cháu chép lại cuốn gia phả chữ Hán, thấy tên làng cũ trong sách có một chữ thiếu nét ngang cuối. Người chép đầu tiên định “sửa cho đúng” bằng cách thêm nét. Nhưng khi đếm lại, chữ ấy thiếu nét ở cả mười mấy chỗ. Cách làm đúng là chép theo chữ chuẩn trong bản phiên âm, nhưng giữ nguyên hình chữ trong ảnh chụp và ghi chú bên lề rằng chữ này viết khuyết bút.
Tên tổ tiên được viết tránh
Cũng cuốn gia phả ấy, khi nhắc đến tên huý của cụ tổ, người chép xưa chỉ ghi chữ huý rồi để một ô trống, hoặc viết chữ cực nhỏ lệch sang bên. Đây là lệ kiêng trong gia đình. Khi lập bản phiên âm, bạn có thể điền tên nếu đã biết chắc từ nguồn khác, nhưng nên đặt trong ngoặc vuông và chú thích nguồn, để người đọc phân biệt đâu là chữ trên văn bản, đâu là chữ người chép thêm vào.
Lỗi hay gặp và việc nên làm
Thêm nét cho chữ khuyết bút ngay trên bản chép. Như vậy là xoá mất dấu vết văn bản học. Chép chữ chuẩn trong phần phiên âm, còn phần chữ gốc thì giữ ảnh và ghi chú.
Coi chữ thay thế là lỗi chính tả. Trước khi sửa, hãy hỏi chữ đó có phải là chữ thay để kiêng không. Đối chiếu với câu gốc hoặc với văn bản khác cùng nội dung.
Kết luận niên đại chỉ dựa vào một chữ kiêng. Luôn tìm thêm niên hiệu, lối chữ, chất liệu giấy. Một dấu hiệu đơn lẻ dễ dẫn tới kết luận sai.
Tự điền chữ vào ô trống. Đánh dấu vị trí trống. Nếu biết chữ từ nguồn khác, điền trong ngoặc vuông kèm ghi nguồn.
Ghi danh sách chữ huý theo trí nhớ. Danh sách chữ phải kiêng của từng triều cần tra trong sách chuyên khảo văn bản học. Nhớ nhầm một chữ là đoán sai cả một văn bản.
Câu hỏi thường gặp
Kiêng huý là gì?
Kiêng huý là tránh viết hoặc đọc chữ trùng với tên vua, tên người trong hoàng tộc hay tên tổ tiên, bằng cách bớt nét, đổi chữ, đổi âm đọc hoặc để trống chỗ đó trong văn bản.
Khuyết bút là gì?
Khuyết bút là cách kiêng huý bằng cách viết thiếu một hoặc vài nét của chữ trùng tên người cần kiêng. Chữ vẫn nhận ra được nhưng cố ý không viết đủ nét.
Vì sao Thanh Hoa lại thành Thanh Hoá?
Tên Thanh Hoa được đổi thành Thanh Hoá dưới thời Nguyễn, gắn với lệ kiêng chữ Hoa trùng tên một bà hoàng hậu. Đây là ví dụ hay được nhắc về dấu vết kiêng huý còn lại trong tên đất.
Có thể dựa vào chữ kiêng huý để xác định năm của văn bản không?
Chỉ dùng làm manh mối. Bản chép đời sau có thể giữ cách kiêng cũ hoặc thêm cách kiêng mới. Cần kết hợp với niên hiệu, lối chữ, giấy và nội dung.
Gặp chữ thiếu nét khi chép gia phả thì xử lý thế nào?
Kiểm tra xem chữ đó có thiếu nét ở mọi chỗ không. Nếu có, chép chữ chuẩn trong phần phiên âm, giữ ảnh chữ gốc và ghi chú là chữ khuyết bút.
Gia đình bình thường có kiêng huý tên tổ tiên không?
Có. Nhiều gia phả chỉ ghi chữ huý rồi để trống hoặc viết tên rất nhỏ khi nhắc tới tổ tiên. Đó là lệ kiêng trong gia đình, cần ghi chú khi phiên âm.