HocThuatCo.comHọc Thuật Cổ
Gửi thư
Học giả Việt xưa

Phan Huy Chú và mười chí của Lịch triều hiến chương loại chí

Không đỗ đại khoa, Phan Huy Chú vẫn để lại bộ sách tra cứu lớn nhất về điển chế các triều đại Việt. Bài này giải thích mười chí, cách ông làm sách và cách người đọc hôm nay dùng bộ sách ấy.

Phan Huy Chú và mười chí của Lịch triều hiến chương loại chí

Phan Huy Chú (1782–1840) để lại Lịch triều hiến chương loại chí, bộ sách chia điển chế các triều đại Việt thành mười chí: đất đai, nhân vật, quan chức, lễ nghi, khoa cử, tài chính, hình luật, binh chế, sách vở và bang giao. Đây là bộ sách tra cứu, đọc theo chí cần dùng.

Điều đáng chú ý là ông làm được việc ấy khi chỉ đỗ tú tài, không có học vị tiến sĩ như nhiều học giả cùng thời. Học vấn của ông không đến từ bảng vàng mà từ một dòng họ có truyền thống làm sách và từ nhiều năm lặng lẽ thu thập tư liệu. Chân dung của ông vì vậy là chân dung một người biên soạn kiên nhẫn hơn là một ông quan nổi danh.

Phan Huy Chú là ai trong nền học thuật cũ?

Ông là con của Phan Huy Ích, một nhà nho có tiếng cuối thế kỷ XVIII, và thuộc dòng họ Phan Huy nổi tiếng về văn học. Lớn lên giữa tủ sách gia đình, ông được tiếp xúc với nhiều thư tịch mà người học bình thường khó có.

Ông hai lần đỗ tú tài, rồi được vua Minh Mạng biết tiếng, vời vào làm việc ở Hàn lâm viện. Ông cũng từng đi sứ và từng theo một chuyến công cán bằng đường biển xuống vùng hải đảo phía nam, có để lại ghi chép về chuyến đi ấy. Nhưng tên tuổi ông gắn trước hết với bộ loại chí.

Bộ sách được ông soạn trong khoảng mười năm và dâng lên triều Minh Mạng. Đọc lời tựa và cách xếp đặt, có thể thấy ông muốn làm một việc rất cụ thể: gom lại các phép tắc của nhiều đời để người làm việc nước có chỗ tra cứu, thay vì mỗi lần phải lục tìm trong hàng chục bộ sử khác nhau.

Mười chí trong Lịch triều hiến chương loại chí gồm những gì?

Tên mỗi chí đã nói lên nội dung. Bảng dưới diễn giải ngắn từng chí và gợi ý ai nên mở chí đó trước.

ChíNội dung chínhHữu ích cho ai
Dư địa chíĐất đai, địa giới, phong thổ các trấn xứNgười tìm hiểu địa danh cũ, lịch sử làng xã
Nhân vật chíTiểu sử vua, công thần, danh nho, người có tiết nghĩaNgười viết chân dung nhân vật
Quan chức chíChức quan, phẩm trật, bộ máy qua các triềuNgười đọc sắc phong, văn bia có chức danh
Lễ nghi chíNghi thức triều đình, triều phục, lễ tiếtNgười nghiên cứu lễ chế, trang phục
Khoa mục chíCác khoa thi, phép thi, danh sách người đỗNgười tra lý lịch khoa bảng
Quốc dụng chíThuế khoá, ruộng đất, tiền tệNgười nghiên cứu kinh tế xưa
Hình luật chíLuật lệ, hình phạt, việc xét xửNgười tìm hiểu luật cổ
Binh chế chíTổ chức quân đội, phép tuyển línhNgười tìm hiểu quân chế
Văn tịch chíThư mục sách vở người Việt, có tóm tắtNgười làm văn bản học, tìm tên sách
Bang giao chíQuan hệ, nghi thức sứ bộ với nước ngoàiNgười nghiên cứu ngoại giao xưa

Bộ sách có 49 quyển chia cho mười chí. Các chí không dài bằng nhau; tuỳ lượng tư liệu ông thu được mà có chí dài, chí ngắn.

Ông làm sách theo phương pháp nào?

Chia theo đề mục thay vì theo năm

Sử biên niên ghi theo thứ tự thời gian: năm này xảy ra việc gì, năm sau việc gì. Muốn biết phép thi thay đổi ra sao qua ba trăm năm, người đọc phải lật hàng chục quyển. Phan Huy Chú làm ngược lại: gom mọi tư liệu về khoa cử vào một chí, xếp theo thứ tự triều đại. Một câu hỏi, một chỗ tra.

Dẫn tư liệu rồi mới bàn

Trong nhiều mục, ông chép lại nội dung chiếu chỉ, lệ định từ các nguồn trước, rồi thêm lời bàn ngắn ở cuối. Phần chép cho người đọc thấy chứng cứ, phần bàn cho thấy ông đánh giá thế nào. Cách tách bạch này giúp người đọc hôm nay biết đâu là tư liệu, đâu là quan điểm.

Biết dừng ở chỗ không chắc

Có những mục ông ghi thẳng là tư liệu thiếu. Thái độ ấy đáng học hơn bất cứ con số nào trong sách: một học giả biết nói “chưa rõ” thì những chỗ ông nói “rõ” mới đáng tin.

Văn tịch chí có gì đặc biệt với người mê thư tịch?

Văn tịch chí là một bản thư mục: kê tên sách của người Việt theo từng loại, ghi tác giả và thường có vài dòng tóm tắt hoặc nhận xét. Với người làm văn bản học, đây là một trong những nguồn đầu tiên để biết một cuốn sách từng tồn tại.

Giá trị lớn nhất của nó là ghi được cả những sách nay đã mất. Khi đọc một tài liệu nhắc tới tên một cuốn sách lạ, người nghiên cứu thường mở Văn tịch chí xem nó có được ghi không, ghi là của ai, thuộc loại gì. Có những cuốn sách chỉ còn sống trong vài dòng ở đây.

Văn tịch chí chia sách thành các loại theo truyền thống thư mục Á Đông như hiến chương, kinh sử, thi văn, truyện ký. Đọc cách chia ấy cũng là một cách hiểu người xưa nghĩ gì về tri thức: cái gì là học vấn chính, cái gì là phụ.

Một cách dùng thực tế: khi tìm thấy trong nhà một tập sách chép tay không rõ tên, hãy ghi lại vài câu đầu và đặc điểm nội dung, rồi dò trong Văn tịch chí xem có cuốn nào được mô tả tương tự. Không phải lần nào cũng tìm ra, nhưng mỗi lần dò là một lần làm quen với bức tranh sách vở người Việt từng có. Sau vài lần như thế, bạn sẽ nhận ra tên nhiều tác giả quen thuộc và biết ai từng viết về đề tài gì.

Những lỗi hay gặp khi dùng bộ loại chí

Bộ sách đáng tin nhưng không phải không cần đối chiếu. Mấy chỗ người mới hay vấp:

  • Đọc bản dịch mà quên bản dịch. Phần lớn người đọc dùng bản dịch tiếng Việt. Thuật ngữ chức quan, tên lễ có thể được dịch khác nhau giữa các bản; khi trích cần ghi rõ bản nào.
  • Coi địa danh trong Dư địa chí là địa danh hôm nay. Tên trấn, phủ, huyện xưa không khớp ranh giới hành chính hiện nay, nhất là sau đợt sắp xếp còn 34 tỉnh, thành. Phải tra bảng đối chiếu địa danh trước khi kết luận.
  • Lấy lời bàn của tác giả làm sự kiện. Lời bàn là quan điểm của một nhà nho đầu thế kỷ XIX, có giá trị riêng nhưng không thay cho tư liệu.
  • Nghĩ bộ sách phủ hết mọi triều. Tư liệu ông có được không đều; có triều ông ghi kỹ, có triều sơ lược. Thiếu ở đây không có nghĩa là không có trong lịch sử.

Tra một câu hỏi bằng Lịch triều hiến chương loại chí

Ví dụ bạn gặp một văn bia làng ghi một người “đỗ Hương cống” và giữ một chức quan lạ.

  1. Xác định câu hỏi thuộc chí nào: học vị thuộc Khoa mục chí, chức quan thuộc Quan chức chí.
  2. Mở mục lục bản dịch, tìm phần triều đại tương ứng với niên hiệu trên bia.
  3. Đọc phần tư liệu trước, lời bàn sau, ghi lại cả hai kèm số quyển và trang.
  4. Đối chiếu với một nguồn khác như chính sử hoặc sách nghiên cứu hiện đại về quan chế.
  5. Ghi chú điều chưa khớp thay vì tự chọn một bên.

Làm theo trình tự này, một văn bia khó hiểu thường được giải trong một buổi tối, và bạn có được thói quen tra cứu của chính Phan Huy Chú.

Câu hỏi thường gặp

Lịch triều hiến chương loại chí viết bằng chữ gì?

Bộ sách viết bằng chữ Hán. Hiện có các bản dịch sang tiếng Việt, và người đọc phổ thông thường tiếp cận qua những bản dịch này.

Phan Huy Chú có đỗ tiến sĩ không?

Không. Ông hai lần đỗ tú tài và được triều Minh Mạng trọng dụng nhờ học vấn và trước tác, không phải nhờ học vị cao.

Bộ sách có bao nhiêu quyển?

Bộ sách gồm 49 quyển, chia thành mười chí. Độ dài từng chí khác nhau tuỳ lượng tư liệu tác giả thu thập được.

Văn tịch chí dùng để làm gì?

Văn tịch chí là thư mục sách của người Việt, ghi tên sách, tác giả và thường có tóm tắt. Nó giúp biết một cuốn sách từng tồn tại, kể cả sách nay đã mất.

Có nên đọc bộ sách này từ đầu đến cuối không?

Không cần. Đây là sách tra cứu, nên đọc theo chí liên quan tới câu hỏi của bạn và đối chiếu với nguồn khác khi cần.

Địa danh trong Dư địa chí có dùng thẳng được không?

Không nên. Địa danh xưa không trùng ranh giới hiện nay, nhất là sau khi cả nước còn 34 tỉnh, thành. Cần tra bảng đối chiếu trước khi kết luận.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

🧭
Bạn đang ở chặng nào của đường học vị?
Nhập chỗ bạn đang đứng và đích bạn nhắm — công cụ trả về số năm, chi phí và việc phải làm từng chặng.
Xem lộ trình của tôi →
Miễn phí, không cần tài khoản. Xem tất cả công cụ

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.

hoặc
[email protected]