Trước tác Nguyễn Trãi đến với người đọc hôm nay qua ba chặng: thất tán sau vụ án Lệ Chi viên năm 1442, được sưu tầm lại sau khi ông được giải oan, rồi được gom thành Ức Trai di tập và khắc in ở thế kỷ XIX. Mỗi chặng đều để lại dấu vết trên văn bản.
Người đọc phổ thông thường gặp Nguyễn Trãi qua sách giáo khoa: Bình Ngô đại cáo, vài bài thơ Nôm, vài bài thơ chữ Hán. Ít ai hỏi những văn bản ấy đã đi qua bao nhiêu tay người chép trước khi tới trang sách. Đây là câu hỏi của văn bản học, và với một tác giả từng bị tru di như Nguyễn Trãi, câu hỏi ấy đặc biệt quan trọng.
Vì sao thơ văn Nguyễn Trãi từng bị thất tán?
Thơ văn ông bị thất tán chủ yếu vì vụ án Lệ Chi viên năm 1442: ông bị khép tội, gia tộc bị liên luỵ, và trong hoàn cảnh ấy, việc giữ gìn trước tác của một người mang án là điều nguy hiểm. Sách chép tay vốn ít bản, nay lại không ai dám lưu giữ công khai.
Hơn hai mươi năm sau, đời vua Lê Thánh Tông, Nguyễn Trãi được giải oan và con cháu được tìm lại. Theo các nguồn sau này, Trần Khắc Kiệm được giao sưu tầm thơ văn của ông và có viết lời tựa cho tập sưu tầm. Đây là lần gom góp đầu tiên, nhưng ai làm việc với thư tịch cũng hiểu: gom lại sau hai mươi năm thì khó lòng đủ.
Vì vậy, khi đọc bất kỳ bộ sưu tập nào về Nguyễn Trãi, cần nhớ đó là phần còn sót lại, không phải toàn bộ những gì ông đã viết. Nhiều trước tác chỉ còn tên, có trước tác không biết đã từng có.
Những trước tác chính của Nguyễn Trãi và tình trạng văn bản
Bảng sau xếp các trước tác thường được nhắc, kèm ghi chú ngắn về văn bản để người đọc biết cần thận trọng ở đâu.
| Trước tác | Chữ viết, thể loại | Ghi chú về văn bản |
|---|---|---|
| Ức Trai thi tập | Thơ chữ Hán | Được gom trong các bộ sưu tập đời sau; có bài còn bàn về tác quyền |
| Quốc âm thi tập | Thơ chữ Nôm, thường kể 254 bài | Tập thơ Nôm sớm nhất còn lại; chữ Nôm qua nhiều lần chép nên có chỗ khó đọc |
| Quân trung từ mệnh tập | Thư từ, văn thư thời kháng chiến | Văn xuôi Hán gửi tướng lĩnh phía Minh, được chép lại đời sau |
| Bình Ngô đại cáo | Thể cáo, chữ Hán | Được chép trong chính sử và nhiều tuyển tập, văn bản tương đối ổn định |
| Dư địa chí | Sách địa lý, chữ Hán | Có phần chú thích của người đời sau chép xen, cần tách lớp |
| Lam Sơn thực lục | Ghi chép về cuộc khởi nghĩa | Gắn với triều đình Lê sơ; các bản về sau có sửa chữa |
Con số 254 bài của Quốc âm thi tập là cách đếm phổ biến; một vài nghiên cứu bàn về việc có bài nào là của người khác chép lẫn vào hay không. Khi trích, nên dùng bản có chú giải văn bản.
Ức Trai di tập được hình thành thế nào?
Lần gom ở thế kỷ XIX
Bộ sưu tập quen thuộc nhất là Ức Trai di tập, do Dương Bá Cung sưu tầm và khắc in vào thời Tự Đức. Bộ sách gom thơ chữ Hán, thơ Nôm, văn thư và một số tư liệu liên quan, tức là hình thành hơn bốn trăm năm sau khi tác giả mất.
Người sưu tầm thế kỷ XIX làm việc với những bản chép tay đã qua nhiều đời. Ông phải chọn giữa các bản khác nhau, đôi khi phải đoán chữ ở chỗ mờ hoặc chép sai. Những lựa chọn ấy đi thẳng vào văn bản mà ta đọc hôm nay.
Khắc in làm văn bản “đông cứng”
Khi một văn bản được khắc lên ván gỗ và in ra nhiều bản, nó trở thành chuẩn mà người sau dựa vào. Điều này giúp giữ gìn, nhưng cũng có mặt trái: nếu bản khắc có lỗi, lỗi ấy lan ra theo mọi bản in. Văn bản học hiện đại thường phải đối chiếu bản khắc với các bản chép tay khác để tìm chỗ sai.
Đọc Quốc âm thi tập: vì sao chữ Nôm làm khó người đọc?
Quốc âm thi tập khó đọc vì nó là thơ Nôm thế kỷ XV nhưng bản còn lại được chép, khắc muộn hơn nhiều. Tiếng Việt thế kỷ XV có những từ cổ nay không dùng, và chữ Nôm thời ấy chưa có chuẩn chung, mỗi người chép có thể viết một chữ theo cách khác.
Kết quả là cùng một câu thơ, các nhà nghiên cứu có thể phiên ra quốc ngữ khác nhau. Một chữ Nôm có thể đọc thành hai từ, mỗi từ cho một nghĩa. Đây không phải lỗi của ai, mà là bản chất của văn bản Nôm cổ.
Với người đọc phổ thông, lời khuyên là đọc bản phiên có chú thích, xem phần chú để biết câu nào đang có nhiều cách đọc. Đừng lấy một câu thơ mà các nhà nghiên cứu còn tranh luận làm chứng cứ cho một nhận định chắc chắn về tư tưởng tác giả.
Học được gì từ con đường văn bản của Nguyễn Trãi?
Văn bản có lịch sử của nó. Một bài thơ không đi thẳng từ ngòi bút tác giả tới trang sách, mà qua người chép, người sưu tầm, thợ khắc, người dịch. Mỗi lớp có thể thêm bớt.
Học giả lớn cũng cần người giữ sách. Nguyễn Trãi được biết đến như hôm nay một phần nhờ những người sưu tầm thầm lặng ở các thế kỷ sau. Văn bản học là nghề của những người giữ kho ấy.
Đọc bản có chú giải trước, bản phổ thông sau. Bản có chú giải văn bản cho biết chỗ nào còn ngờ, giúp bạn không trích nhầm câu đang tranh luận.
Tách tác phẩm khỏi tác giả khi cần. Có bài trong các tập sưu tầm được bàn là có thể không phải của Nguyễn Trãi. Khi chưa ngã ngũ, ghi “bài được chép trong Ức Trai di tập” thay vì khẳng định chắc.
Dư địa chí: một Nguyễn Trãi làm sách địa lý
Ngoài thơ văn, Nguyễn Trãi còn để lại Dư địa chí, một sách địa lý ghi về sông núi, đất đai, sản vật và phong tục các vùng. Cuốn sách cho thấy ông không chỉ là nhà thơ hay người viết văn thư chính trị, mà còn quan tâm tới việc mô tả đất nước một cách có hệ thống.
Bản còn lại của Dư địa chí có kèm lời chú thích của những người đời sau, chép xen vào chính văn. Người đọc cần tách lớp: đâu là lời Nguyễn Trãi, đâu là lời chú. Đây là một ví dụ rất rõ về việc văn bản cổ thường không “sạch”, mà là nhiều tầng chữ của nhiều người chồng lên nhau.
Với người tìm hiểu địa danh, Dư địa chí là nguồn đáng giá, nhưng tên vùng trong sách thuộc hệ hành chính thế kỷ XV. Muốn đặt lên bản đồ hôm nay, phải đi qua nhiều lớp đổi tên và sáp nhập, kể cả đợt sắp xếp còn 34 tỉnh, thành gần đây.
Muốn đọc nghiêm túc một bài của Nguyễn Trãi, làm theo thứ tự này
Áp dụng được cho cả thơ chữ Hán lẫn thơ Nôm.
- Tìm bản có phần nguyên văn Hán hoặc Nôm, phiên âm, dịch nghĩa và chú thích văn bản.
- Đọc chú thích trước để biết bài nằm trong bộ sưu tập nào, có dị bản không.
- Đọc phiên âm và dịch nghĩa, chưa đọc bản dịch thơ.
- Ghi lại những chữ, câu có nhiều cách hiểu theo chú thích.
- Sau cùng mới đọc bản dịch thơ và các bài bình, đối chiếu xem người bình có dựa vào câu đang còn tranh luận hay không.
Năm bước này mất thêm chừng mười phút cho mỗi bài, nhưng tránh được lỗi rất hay gặp là dựng cả một luận điểm trên một chữ đọc chưa chắc.
Câu hỏi thường gặp
Vụ án Lệ Chi viên xảy ra năm nào?
Vụ án xảy ra năm 1442, đời vua Lê Thái Tông. Nguyễn Trãi bị khép tội và gia tộc bị liên luỵ, kéo theo việc trước tác của ông bị thất tán.
Ai giải oan cho Nguyễn Trãi?
Vua Lê Thánh Tông giải oan cho ông vào thập niên 1460, sau đó cho tìm con cháu và sưu tầm lại thơ văn.
Ức Trai di tập là gì?
Đây là bộ sưu tập trước tác Nguyễn Trãi được gom và khắc in ở thế kỷ XIX, đời Tự Đức, do Dương Bá Cung sưu tầm. Nhiều văn bản ta đọc hôm nay đi qua bộ sách này.
Quốc âm thi tập có bao nhiêu bài?
Cách đếm phổ biến là 254 bài thơ Nôm. Có nghiên cứu bàn về khả năng một số bài chép lẫn, nên khi trích nên dùng bản có chú giải văn bản.
Vì sao một câu thơ Nôm có nhiều cách đọc?
Vì chữ Nôm thời ấy chưa có chuẩn chung, tiếng Việt cổ có từ nay không dùng, và văn bản qua nhiều lần chép. Một chữ có thể phiên thành vài từ khác nhau.
Dư địa chí của Nguyễn Trãi viết về gì?
Đây là sách địa lý chữ Hán ghi sông núi, đất đai, sản vật, phong tục các vùng. Bản còn lại có lời chú của người đời sau chép xen, cần tách lớp khi đọc.