Học đối là bài tập bắt buộc của học trò xưa: thầy ra một vế, trò đáp vế kia sao cho số chữ bằng nhau, thanh bằng trắc đối nhau, từ loại tương xứng và ý tứ ăn khớp. Đây là cách luyện ngữ pháp, vốn từ và nhạc tính trước khi bước sang làm thơ, phú, văn trường thi.
Người hôm nay biết câu đối chủ yếu qua ngày Tết hay qua hoành phi, câu đối ở đình, nhà thờ họ. Nhưng trong lớp học xưa, đối là một môn luyện hằng ngày, đi từ một chữ đến vài chục chữ. Hiểu cách người xưa tập đối giúp bạn đọc câu đối đúng thứ tự, nhận ra cái khéo của nó, và nếu thích thì tự tập được.
Học đối luyện cho người học những gì?
Câu đối không phải trò khéo chữ cho vui. Trong chương trình học xưa, nó là chiếc cầu nối từ việc biết mặt chữ sang việc viết văn.
Vốn từ. Muốn đối “trời” phải nghĩ ngay ra “đất”, đối “mưa” phải có “gió”. Mỗi lần đối là một lần lục vốn từ theo nhóm nghĩa.
Từ loại. Danh từ đối danh từ, động từ đối động từ, số đối số, màu đối màu. Người học không cần thuật ngữ ngữ pháp mà vẫn phân biệt được loại từ qua thực hành.
Thanh điệu. Tai quen phân biệt bằng và trắc, nền tảng để làm thơ Đường luật và phú về sau.
Tư duy song song. Văn biền ngẫu trong chiếu, biểu, phú, kinh nghĩa đều dựa trên những cặp câu đối nhau. Học đối là học viết văn trường thi từ gốc.
Ba luật cơ bản của một cặp đối là gì?
Có thể gói các yêu cầu của một cặp đối vào ba lớp. Câu đối Tết quen thuộc “Thịt mỡ, dưa hành, câu đối đỏ / Cây nêu, tràng pháo, bánh chưng xanh” là ví dụ tốt để soi từng lớp.
| Luật | Yêu cầu | Soi vào câu đối Tết |
|---|---|---|
| Đối số chữ | Hai vế dài bằng nhau, ngắt nhịp tương ứng | Mỗi vế bảy chữ, cùng nhịp hai, hai, ba |
| Đối thanh | Ở các vị trí then chốt, bằng đối trắc; vế trên thường kết bằng thanh trắc, vế dưới kết bằng thanh bằng | “đỏ” thanh hỏi là trắc, “xanh” là thanh bằng |
| Đối loại và đối ý | Từ cùng loại đứng đối nhau, ý hai vế bổ sung hoặc tương phản | “đỏ” đối “xanh” là màu đối màu; “thịt mỡ, dưa hành” đối “cây nêu, tràng pháo” là vật ngày Tết đối vật ngày Tết |
Luật thanh không đòi mọi chữ đều phải ngược thanh; những chữ ở vị trí nhấn nhịp và chữ cuối là quan trọng nhất. Trong thực hành, chữ cuối là chỗ dễ kiểm nhất và cũng là chỗ người chấm nhìn trước tiên.
Thứ tự luyện đối từ một chữ tới câu dài
Lối luyện đi từ đơn vị nhỏ nhất lên, mỗi bậc chỉ thêm một khó khăn mới.
Đối một chữ
Bắt đầu bằng những cặp đơn: 天 thiên đối 地 địa, 雨 vũ đối 風 phong. Một sách dạy đối của Trung Hoa là Lập Ông đối vận mở đầu đúng như vậy: 天對地,雨對風 thiên đối địa, vũ đối phong, nghĩa là trời đối đất, mưa đối gió.
Đối hai, ba chữ
Ngay sau đó là 大陸對長空 đại lục đối trường không: đất liền rộng đối bầu trời dài. Soi thanh: “đại” trắc đối “trường” bằng, “lục” trắc đối “không” bằng. Rồi 山花對海樹 sơn hoa đối hải thụ, hoa núi đối cây biển: “sơn, hoa” đều bằng, “hải, thụ” đều trắc. Rồi 赤日對蒼穹 xích nhật đối thương khung, mặt trời đỏ đối vòm trời xanh: trắc trắc đối bằng bằng.
Chỉ ba cặp này đã gói đủ bài học: danh từ ghép đối danh từ ghép, tính từ chỉ màu “xích” đối “thương”, và thanh lật ngược ở từng vị trí.
Đối câu năm, bảy chữ rồi câu dài
Khi đã quen, thầy ra vế năm chữ, bảy chữ, theo nhịp thơ. Bậc cao hơn là câu đối dài nhiều vế nhỏ, câu đối có điển cố, có chơi chữ. Ở bậc này người học phải vừa giữ luật vừa làm cho ý hai vế nâng nhau lên, không chỉ khớp từng chữ.
Đối chữ Hán và đối chữ Nôm khác nhau ở đâu?
Câu đối chữ Hán dùng ở đình, đền, nhà thờ họ, trong lễ mừng thọ, lễ tang, thường trang trọng, nén chữ, nhiều điển cố. Đọc được câu đối chữ Hán cần biết điển, biết những cặp chữ quen dùng, và để ý thanh của âm Hán Việt.
Câu đối Nôm gần đời sống hơn: câu đối Tết, câu đối mừng nhà mới, câu đối chế giễu thói xấu, câu đối thách nhau trong giai thoại. Câu đối Nôm hay chơi chữ, nói lái, dùng từ đồng âm, nên thú vị nhưng cũng khó dịch sang ngôn ngữ khác.
Với người học hôm nay, câu đối Nôm là chỗ tập đầu tiên tốt: bạn đã sẵn có tai nghe thanh điệu tiếng Việt, chỉ cần tập cách đặt từ cùng loại đối nhau. Sang câu đối chữ Hán, phần khó chủ yếu nằm ở điển cố và vốn chữ.
Gặp một đôi câu đối, nhận vế trên vế dưới thế nào?
Ở đình hay nhà thờ họ, bạn thường thấy hai vế treo hai bên. Để đọc đúng thứ tự:
- Đọc chữ cuối của mỗi vế bằng âm Hán Việt hoặc âm Nôm.
- Vế có chữ cuối mang thanh trắc (sắc, hỏi, ngã, nặng) thường là vế trên, đọc trước.
- Vế có chữ cuối mang thanh bằng (không dấu, huyền) thường là vế dưới, đọc sau.
- Đối chiếu ý: vế trên thường nêu, vế dưới đáp lại hoặc mở rộng.
- Nếu có hoành phi ở giữa, đọc hoành phi trước rồi mới đến hai vế, vì hoành phi thường là ý chung.
Quy tắc này đúng với phần lớn câu đối truyền thống, nhưng vẫn có ngoại lệ. Khi chép lại để lưu trong tư liệu gia đình, nên ghi rõ vị trí treo thực tế bên cạnh thứ tự bạn đọc.
Những lỗi hay gặp khi tập đối
Đối chữ mà không đối ý. Từng cặp chữ khớp nhau nhưng hai vế nói hai chuyện rời rạc, đọc lên không thành một đôi.
Lặp chữ giữa hai vế. Trừ khi cố ý chơi chữ, một chữ đã dùng ở vế trên thì không lặp lại ở vị trí tương ứng của vế dưới.
Sai thanh chữ cuối. Hai vế cùng kết bằng thanh bằng là lỗi dễ thấy nhất, người đọc nhận ra ngay.
Đối gượng từ loại. Động từ đặt đối với danh từ chỉ vì cùng thanh, làm câu đối què.
Dùng điển không hiểu. Nhặt một cụm chữ Hán đẹp đặt vào mà không biết xuất xứ, có khi ý của điển ngược hẳn với ý mình muốn nói.
Một bài luyện đối mười phút cho người mới
Nếu bạn muốn thử, có thể tập theo trình tự này, một mình hoặc theo nhóm:
- Chọn mười danh từ đơn chỉ thiên nhiên, viết ra cặp đối cho từng từ, ví dụ núi đối sông, mây đối nước.
- Ghép thành cụm hai chữ có tính từ: núi cao đối sông dài; kiểm thanh từng vị trí.
- Lấy một vế năm chữ quen thuộc, tự đặt vế dưới, kiểm chữ cuối có đúng thanh bằng không.
- Đọc to cả hai vế để nghe nhịp có cân không.
- So với một câu đối có sẵn cùng chủ đề, ghi lại chỗ người xưa làm khéo hơn.
Không cần đặt mục tiêu làm câu đối hay ngay. Cái được lớn nhất của việc tập là tai nghe thanh và mắt thấy từ loại; hai thứ đó giúp bạn đọc thơ, phú, văn biền ngẫu cổ nhanh hơn hẳn.
Câu hỏi thường gặp
Vì sao học trò xưa phải học đối?
Học đối luyện vốn từ, cảm nhận từ loại và thanh bằng trắc. Đó là nền để làm thơ Đường luật, phú và văn biền ngẫu trong các thể văn trường thi.
Làm sao biết vế nào là vế trên của câu đối?
Thường vế có chữ cuối mang thanh trắc là vế trên, vế có chữ cuối mang thanh bằng là vế dưới. Có ngoại lệ, nên đối chiếu thêm ý của hai vế.
Lập Ông đối vận là sách gì?
Đó là một sách dạy đối của Trung Hoa, gồm những cặp đối có vần từ một chữ tới nhiều chữ, mở đầu bằng thiên đối địa, vũ đối phong, đại lục đối trường không.
Câu đối có bắt buộc mọi chữ đều ngược thanh không?
Không bắt buộc mọi chữ. Quan trọng nhất là các chữ ở vị trí nhấn nhịp và chữ cuối của mỗi vế phải đối thanh với nhau.
Người mới nên tập đối bằng chữ Hán hay chữ Nôm?
Nên bắt đầu bằng tiếng Việt vì tai đã quen thanh điệu, chỉ cần tập đặt từ cùng loại. Khi vững rồi mới chuyển sang chữ Hán, nơi phần khó nằm ở điển cố.
Câu đối Tết thịt mỡ dưa hành có đúng luật không?
Hai vế bảy chữ, cùng nhịp, chữ cuối đỏ là thanh trắc đối xanh là thanh bằng, màu đối màu, vật ngày Tết đối vật ngày Tết, nên là ví dụ đúng luật dễ nhớ.