Lớp thầy đồ xưa dạy theo lối luyện tay và luyện miệng: trẻ tô chữ thầy viết sẵn bằng son, đọc to theo nhịp cho đến thuộc, trả bài trước thầy rồi mới được giảng nghĩa; học trò lớn chuyển sang học đối, làm thơ, làm văn và bình văn.
Ở làng quê, phần lớn người biết chữ thời trước đều đi qua một lớp như thế, dù sau này có theo đuổi thi cử hay không. Lớp thầy đồ không có bảng điểm, không có lớp theo tuổi, nhưng có trật tự riêng và cách dạy khá chặt. Bài này dựng lại một buổi học: lớp họp ở đâu, học trò mang gì, thầy dạy theo những bậc nào, lễ nghi gì đi kèm, và điều gì đáng giữ lại khi dạy chữ Hán hôm nay.
Lớp thầy đồ thường họp ở đâu và gồm những ai?
Lớp thầy đồ thường họp ngay tại nhà thầy, hoặc tại nhà một gia đình khá giả mời thầy về dạy con cháu và cho trẻ trong xóm học cùng. Có thầy ở hẳn một nơi nhiều năm; có thầy đến dạy theo mùa, xong vụ lại về quê. Gian học là gian nhà thường, trải chiếu, kê vài chiếc bàn thấp hoặc ván gỗ, học trò ngồi xếp bằng.
Một lớp có thể gồm cả trẻ sáu, bảy tuổi mới vỡ lòng lẫn thanh niên đang luyện văn đi thi. Không chia lớp theo tuổi, mỗi người học theo bậc của mình. Người học trò lớn, giỏi và có uy tín được thầy giao trông lớp, kèm các em nhỏ, gọi là trưởng tràng. Khi thầy vắng, trưởng tràng nghe các em trả bài, nhắc thứ tự nét, giữ nề nếp.
Sự đông đủ nhiều lứa tuổi trong một gian là đặc điểm đáng để ý. Trẻ nhỏ ngày nào cũng nghe các anh lớn bình văn, đọc thơ, nên tai quen nhịp văn chương từ rất sớm; học trò lớn thì củng cố kiến thức bằng việc dạy lại cho em nhỏ.
Học trò mang theo những đồ dùng gì?
Đồ dùng học chữ Hán khá ít, nhưng mỗi thứ có cách dùng riêng mà trẻ phải tập từ ngày đầu.
| Đồ dùng | Dùng thế nào | Điều phải tập |
|---|---|---|
| Bút lông | Cán tre, đầu lông thú, chấm mực viết | Cầm bút thẳng đứng, không tì cổ tay xuống giấy |
| Nghiên | Phiến đá có lòng trũng để mài mực | Mài đều tay, không để mực quá đặc hay quá loãng |
| Thỏi mực | Mài với ít nước trên nghiên | Giữ thỏi mực thẳng, mài xong lau khô |
| Giấy bản, giấy dó | Giấy mỏng, thấm mực nhanh | Đặt bút dứt khoát, không ngập ngừng kẻo loang |
| Sách chép tay | Học trò thường tự chép lại sách của thầy | Chép đúng từng nét, không bỏ sót chữ |
Sách in thời ấy không rẻ, nên việc tự chép sách là chuyện thường. Chép sách tự nó đã là một bài học: muốn chép đúng phải nhìn kỹ từng nét, và chép xong một cuốn là đã đọc kỹ cuốn ấy một lượt.
Từ tô chữ son tới viết tự do: luyện tay theo từng bậc
Bậc một: tô chữ
Thầy dùng son đỏ viết sẵn vài chữ trên giấy, trò chấm mực đen tô đè lên đúng từng nét. Nét son lộ ra ở đâu là chỗ trò tô lệch. Cách này dạy thứ tự nét và tỉ lệ chữ mà không cần lời giảng: tay trò cứ đi theo tay thầy.
Bậc hai: viết theo mẫu
Khi tay đã quen, thầy viết mẫu một dòng ở đầu giấy, trò viết theo ở các dòng dưới. Chữ phải vuông vắn, ngay hàng, khoảng cách đều. Người xưa coi nét chữ phản ánh sự cẩn trọng của người viết, nên chữ cẩu thả bị nhắc ngay.
Bậc ba: viết thuộc lòng
Trò viết lại cả đoạn đã học mà không nhìn sách. Đây là lúc lộ ra những chữ trò nhớ mặt nhưng không nhớ nét, hay viết lẫn hai chữ gần giống nhau. Thầy khoanh chỗ sai, trò viết lại nhiều lượt.
Vì sao lớp thầy đồ lúc nào cũng vang tiếng đọc?
Đọc to là cách học chính. Thầy đọc mẫu, trò đọc theo, rồi mỗi người tự đọc bài của mình, ngân theo nhịp câu. Người ngoài đi qua chỉ nghe một khối âm thanh ê a, nhưng trong đó mỗi trò đang đọc một bài khác nhau, và thầy vẫn nghe ra ai đọc sai âm.
Lối đọc này có lý do. Khi sách hiếm, trí nhớ là kho sách. Đọc thành tiếng gắn mặt chữ với âm Hán Việt, nhịp ngân giúp nhớ ranh giới câu trong văn bản không có dấu chấm. Nhiều nhà Nho về già vẫn đọc làu những trang học từ thuở nhỏ chính nhờ thói quen này.
Sáng hôm sau, mỗi trò lên trả bài: đứng hoặc ngồi trước thầy đọc thuộc đoạn hôm qua. Thuộc rồi mới được học tiếp, chưa thuộc thì học lại. Thầy không ghi điểm, nhưng ai tiến nhanh, ai chậm thì cả lớp đều biết qua việc người đó đang học tới cuốn nào.
Học trò lớn học gì: đối, thơ, văn và bình văn
Khi đã đọc thông thạo Tứ thư, người học bước sang phần làm văn. Ở bậc này lớp học giống một xưởng viết hơn là một lớp đọc.
Học đối. Thầy ra một vế, trò đáp vế kia cho đủ số chữ, đúng thanh, đúng từ loại. Đây là bài tập ngữ pháp và vốn từ trước khi làm thơ.
Làm thơ, làm phú. Trò tập theo luật Đường, tập gieo vần, tập đặt câu đối nhau trong bài, thường theo đề thầy cho.
Làm văn theo thể trường thi. Người định đi thi tập kinh nghĩa, văn sách theo đúng khuôn mà quan trường đòi hỏi.
Bình văn. Học trò đọc bài của mình hoặc bài mẫu trước lớp, thầy chỉ chỗ hay, chỗ dở, câu nào khéo, câu nào phạm lỗi. Bình văn vừa là chấm bài vừa là giảng cách viết, cả lớp cùng nghe.
Những lễ nghi nào đi kèm việc học?
Việc học xưa gắn với lễ nghĩa thầy trò, và một số lễ nhỏ đánh dấu những mốc của người học:
- Lễ nhập môn: gia đình đưa trẻ đến xin học, mang theo lễ vật tuỳ khả năng, trẻ lạy thầy nhận làm học trò.
- Khai bút đầu năm: những ngày đầu năm mới, người học viết vài chữ hay câu đẹp để lấy may, mong một năm học hanh thông.
- Tết thầy: câu tục ngữ “mồng một tết cha, mồng hai tết mẹ, mồng ba tết thầy” cho thấy vị trí của người thầy trong đời sống làng.
- Thầy trò gắn bó lâu dài: học trò đỗ đạt thường về thăm thầy, có việc nhà thầy thì đến giúp.
Kỷ luật của lớp thầy đồ có phần nghiêm khắc, kể cả việc phạt roi, vốn là thói quen của thời đó. Đây là chỗ không nên lấy làm mẫu: dạy trẻ hôm nay cần kiên nhẫn và tôn trọng, không dùng hình phạt thân thể.
Điều gì từ lớp thầy đồ còn dùng được khi dạy chữ Hán hôm nay?
Nếu bạn đang dạy con cháu, dạy một nhóm học chữ Hán ở câu lạc bộ, hay tự học, có mấy điều đáng giữ:
- Cho tô chữ trước khi viết tự do: rẻ, nhanh và sửa thứ tự nét hiệu quả hơn mọi lời giảng.
- Đọc to phiên âm Hán Việt mỗi buổi, kể cả khi học một mình.
- Trả bài ngắn đầu buổi: đọc lại đoạn hôm trước rồi mới học đoạn mới.
- Để người học khá kèm người mới, như vai trưởng tràng; người kèm cũng tiến bộ nhanh.
- Bình bài theo nhóm: cùng đọc một bản dịch, chỉ ra chỗ đúng, chỗ lệch so với nguyên văn.
- Không chấm điểm hay xếp hạng trẻ nhỏ; ghi nhận bằng việc trẻ đọc được thêm câu nào.
Những gì không cần bắt chước: học thuộc cả cuốn trước khi hiểu, ngồi xếp bằng hàng giờ, và mọi hình thức phạt nặng tay.
Câu hỏi thường gặp
Trưởng tràng trong lớp thầy đồ là ai?
Trưởng tràng là học trò lớn, học giỏi và có uy tín được thầy giao trông lớp. Người này nghe các em nhỏ trả bài, nhắc nề nếp và thay thầy khi thầy vắng.
Tô chữ son là cách học như thế nào?
Thầy viết sẵn chữ bằng son đỏ, trò dùng mực đen tô đè lên đúng từng nét. Nét son lộ ra chỗ nào là chỗ trò viết lệch, nhờ đó học được thứ tự nét và tỉ lệ chữ.
Bình văn trong lớp học xưa là gì?
Bình văn là việc đọc một bài văn trước lớp rồi thầy chỉ ra chỗ hay, chỗ dở, câu khéo, câu phạm lỗi. Đó vừa là chấm bài vừa là giảng cách viết cho cả lớp.
Lớp thầy đồ có chia lớp theo tuổi không?
Thường không. Trẻ mới vỡ lòng và người lớn luyện thi có thể học chung một gian, mỗi người học theo bậc của mình dưới sự chỉ dẫn của thầy.
Mồng ba tết thầy có nguồn gốc từ đâu?
Đây là tục ngữ dân gian “mồng một tết cha, mồng hai tết mẹ, mồng ba tết thầy”, thể hiện việc kính trọng người dạy chữ trong đời sống làng xã xưa.