Văn sách là bài sĩ tử trả lời một chuỗi câu hỏi về kinh sử và việc nước: dẫn sách xưa làm căn cứ, so sánh các đời, nói rõ điều được điều mất, rồi đề xuất cách làm. Đây là thể văn gần nhất với bài nghị luận hôm nay và là bài thi chính của thi Đình.
Nếu kinh nghĩa đòi người thi nói đúng lời thánh hiền, thì văn sách là chỗ người thi được nói ý mình, dù vẫn trong khuôn phép. Nhiều bài văn sách còn lưu cho thấy cách các nhà Nho nhìn những vấn đề như thuế khoá, đê điều, chọn người tài, giáo hoá dân. Bài này đi vào cấu trúc một đề và một bài văn sách, cách lập luận, những lỗi khiến bài bị loại, và điều người viết nghị luận hôm nay có thể học.
Văn sách khác văn nghị luận bây giờ ở đâu?
Giống nhau ở chỗ cả hai đều nêu vấn đề, đưa căn cứ và kết luận. Khác nhau ở ba điểm. Thứ nhất, căn cứ của văn sách gần như luôn là kinh sử: lời thánh hiền, việc của các đời trước; số liệu, quan sát thực địa ít có chỗ. Thứ hai, văn sách trả lời đúng câu hỏi người ra đề đặt, theo đúng thứ tự, không tự chọn đề tài. Thứ ba, giọng văn phải khiêm cung với người hỏi, nhất là khi người hỏi là vua.
Vì vậy đọc văn sách không nên tìm sự phản biện gay gắt kiểu hiện đại. Cái đáng tìm là cách người viết dùng sách xưa để nói chuyện nay, và những chỗ họ khéo léo đưa ra ý riêng dưới lớp lời lẽ mềm mỏng.
Một đề văn sách thường hỏi những gì?
Đề cổ văn
Đề cổ văn hỏi về kinh truyện và sử sách: một khái niệm trong kinh hiểu thế nào, vì sao đời này thịnh đời kia suy, chính sách của một triều xưa được mất ra sao. Người thi phải nhớ chính xác sự kiện, nhân vật, câu chữ để trả lời.
Đề kim văn
Đề kim văn hỏi việc đương thời: làm sao cho dân đủ ăn, chọn quan thế nào cho được người giỏi, giữ biên giới ra sao, sửa phong tục thế nào. Người thi phải nối được sách xưa với việc trước mắt.
Đề nhiều tầng
Một đề văn sách hiếm khi chỉ có một câu. Thường đề nêu một vấn đề lớn, rồi hỏi liền nhiều câu nhỏ, mỗi câu dẫn một sự việc trong sách, cuối cùng hỏi người thi nghĩ sao về việc nay. Người viết phải trả lời đủ, đúng thứ tự, sót một câu là bài yếu đi rõ rệt.
Bố cục một bài văn sách gồm những phần nào?
Khuôn bài văn sách không cứng như kinh nghĩa, nhưng có những phần mà hầu hết bài đều đi qua. Tên gọi dưới đây là cách gọi mô tả cho dễ hiểu.
| Phần | Làm gì | Lưu ý |
|---|---|---|
| Mở | Nêu ý lớn của vấn đề, thường bằng một nguyên lý chung từ kinh sách | Ngắn, đi thẳng vào đại ý của đề |
| Giải từng câu hỏi | Trả lời lần lượt từng câu nhỏ của đề, dẫn sách làm căn cứ | Đúng thứ tự đề hỏi, không bỏ sót |
| Bàn và so sánh | Đặt các đời, các chính sách cạnh nhau để chỉ ra được mất | Căn cứ phải chính xác, nhầm sự kiện là lỗi nặng |
| Đề xuất | Nêu cách làm cho việc hiện tại | Trong khuôn phép, lời lẽ mềm mỏng |
| Kết | Gom ý chính về một câu, giữ lễ với người hỏi | Theo công thức kết quen dùng |
Điểm cốt lõi là bài trả lời phải bám theo đề như bám một dàn ý có sẵn. Văn sách hay là văn sách làm cho người chấm thấy mọi câu hỏi đều được giải đáp, và phần đề xuất có lý lẽ chứ không chỉ là lời chúc tụng.
Một cách tập của người xưa là lập sẵn cho mỗi vấn đề lớn một khung ý: nguyên lý trong kinh, hai ba việc sử tiêu biểu, những cách làm từng được bàn. Vào trường thi, gặp đề nào thì rút khung ấy ra, chọn những gì trúng câu hỏi, bỏ phần thừa. Người không chuẩn bị khung thường hoặc viết thiếu căn cứ, hoặc đổ hết mọi thứ mình nhớ vào bài.
Bài đình đối ở thi Đình mở và kết thế nào?
Ở thi Đình, đề do vua ra hoặc ra danh nghĩa vua, nên bài làm là lời một người thần dân đáp lại vua. Bài thường mở bằng chữ 臣對 thần đối, nghĩa là bề dưới xin thưa, rồi dẫn ý bằng 臣聞 thần văn, nghĩa là được nghe rằng, để nêu một nguyên lý trong kinh sách làm điểm tựa. Phần cuối thường khép bằng lời 臣謹對 thần cẩn đối, kính cẩn xin thưa.
Những công thức này không phải sáo rỗng vô nghĩa: chúng đặt người viết vào đúng vai, và cho người chấm thấy ngay thí sinh nắm thể thức. Phần thân bài đình đối thường dài, trả lời từng ý trong lời hỏi của vua, nhiều bài nêu thẳng những vấn đề của triều chính với lời lẽ cẩn trọng.
Thứ bậc người đỗ thi Đình, tức xếp vào nhóm nào trong ba giáp, phụ thuộc chủ yếu vào bài này. Vì thế nhiều bài đình đối của những người đỗ cao được chép lại, truyền tay làm mẫu cho các khoa sau.
Lập luận kiểu văn sách: ba động tác chính
Bóc một bài văn sách tốt ra, bạn sẽ thấy ba động tác lặp lại trong từng đoạn.
Viện dẫn. Mỗi ý đều dựa vào một câu kinh, một việc sử. Người chấm đánh giá cao việc dẫn đúng, dẫn trúng, không dẫn tràn lan.
Đối chiếu. Đặt hai đời, hai cách làm cạnh nhau để chỉ ra vì sao một bên thành, một bên bại. Đây là chỗ thể hiện khả năng phân tích.
Đề xuất trong khuôn. Đề xuất thường ở dạng trở về tinh thần của thánh hiền, sửa những gì đã lệch. Người viết giỏi cài được ý cụ thể, có thể làm được, vào trong khung ấy.
Những lỗi khiến bài văn sách bị đánh giá thấp
Ngoài các lỗi chung của trường thi như phạm húy hay viết sai thể thức, văn sách có những lỗi riêng:
- Bỏ sót câu hỏi, hoặc trả lời không theo thứ tự đề hỏi.
- Dẫn sai sự kiện, nhầm đời vua, nhầm người nói.
- Chép lan man kiến thức thuộc lòng mà không trả lời đúng điều đề hỏi.
- Chỉ ca ngợi chung chung, không có phần đề xuất.
- Lời lẽ quá thẳng, thiếu lễ, nhất là trong bài đình đối.
Lỗi thứ ba đáng để ý nhất vì đến hôm nay vẫn gặp: người viết biết nhiều nhưng không chọn lọc, đổ hết vào bài, khiến ý chính chìm mất.
Học gì từ văn sách khi viết nghị luận hôm nay?
Bạn không cần viết theo khuôn xưa, nhưng có mấy thói quen của người làm văn sách rất đáng dùng, nhất là khi làm bài nghị luận xã hội hay viết một bản đề xuất ở nơi làm việc:
- Đọc kỹ đề, tách thành các câu hỏi nhỏ và đánh số trước khi viết.
- Trả lời từng câu theo thứ tự đề, mỗi câu một đoạn.
- Mỗi ý chính phải có một căn cứ cụ thể: một dẫn chứng, một sự việc, một số liệu có nguồn.
- Đặt hai trường hợp cạnh nhau để làm rõ vì sao kết quả khác nhau.
- Kết bằng đề xuất làm được, không dừng ở nhận xét.
Với giáo viên ngữ văn, một bài văn sách trích ngắn, có phiên âm và dịch nghĩa, là tư liệu tốt để học sinh thấy nghị luận không phải thứ mới có, và thấy cách người xưa giữ mạch lập luận trong một bài dài.
Câu hỏi thường gặp
Văn sách là gì?
Văn sách là thể văn trả lời một chuỗi câu hỏi về kinh sử và việc nước, dẫn sách xưa làm căn cứ, so sánh được mất rồi đề xuất cách làm. Đây là bài thi trường cuối của thi Hương và bài chính của thi Đình.
Cổ văn và kim văn trong văn sách khác nhau thế nào?
Đề cổ văn hỏi về kinh truyện và việc các đời trước; đề kim văn hỏi việc đương thời như cai trị, nông nghiệp, chọn người tài. Nhiều đề kết hợp cả hai.
Thần đối, thần văn nghĩa là gì?
Thần đối nghĩa là bề dưới xin thưa, dùng để mở bài đình đối. Thần văn nghĩa là được nghe rằng, dùng để dẫn một nguyên lý trong kinh sách làm điểm tựa lập luận.
Đình đối quyết định điều gì?
Bài đình đối ở thi Đình quyết định thứ bậc của người đỗ tiến sĩ, tức được xếp vào nhóm nào trong ba giáp.
Học sinh hôm nay học được gì từ văn sách?
Thói quen tách đề thành câu hỏi nhỏ, trả lời đúng thứ tự, mỗi ý có căn cứ, so sánh hai trường hợp và kết bằng đề xuất làm được.