HocThuatCo.comHọc Thuật Cổ
Gửi thư
Khoa cử và trường học xưa

Kinh nghĩa, chiếu, biểu, phú, văn sách: các thể văn sĩ tử phải thi

Một kỳ thi Hương xưa đòi sĩ tử viết những thể văn nào: kinh nghĩa, chiếu chế biểu, thơ phú, văn sách. Mỗi thể kiểm năng lực gì và cách đọc lại một bài văn trường thi.

Kinh nghĩa, chiếu, biểu, phú, văn sách: các thể văn sĩ tử phải thi

Sĩ tử thi Hương thời Lê và Nguyễn thường phải qua bốn kỳ, gọi là bốn trường, mỗi trường một nhóm thể văn: kinh nghĩa giải nghĩa sách kinh, chế chiếu biểu là văn bản triều đình, thơ phú là văn chương có luật, và văn sách là bài bàn về sử và việc nước.

Thứ tự và nội dung từng trường có lúc được triều đình điều chỉnh, nên khi đọc tư liệu về một khoa thi cụ thể, bạn cần xem ghi chép của chính khoa ấy. Nhưng bộ thể văn trên lặp lại đủ lâu để thành khung chung của khoa cử Nho học. Bài này giải thích từng thể: viết theo khuôn nào, kiểm năng lực gì, và vì sao triều đình lại muốn người làm quan giỏi đủ cả bốn.

Bốn trường thi Hương xưa thi những gì?

Bảng dưới đây tóm tắt khung phổ biến. Đây là mô tả khái quát, không thay cho quy định của từng triều, từng khoa.

TrườngThể vănKiểm năng lực gì
Trường nhấtKinh nghĩa (giải nghĩa câu trích từ Tứ thư, Ngũ kinh)Thuộc và hiểu kinh điển, giảng giải theo cách hiểu chính thống
Trường nhìChế, chiếu, biểuSoạn văn bản hành chính đúng thể thức, đúng tôn ti, lời lẽ trang trọng
Trường baThơ, phúVăn chương có luật: vần, thanh, đối, điển cố
Trường tưVăn sáchHiểu biết sử sách và việc đương thời, khả năng lập luận và đề xuất

Sĩ tử phải qua trường trước mới được vào trường sau. Nói khái quát, người qua được ba trường đầu có thể đỗ hạng thấp (sinh đồ, sau gọi tú tài), người qua cả bốn trường với văn đủ tốt mới đỗ hạng cao (hương cống, sau gọi cử nhân). Cách xét cụ thể thay đổi theo thời.

Kinh nghĩa: giải nghĩa một câu trong sách kinh

Đề bài trông như thế nào

Đề kinh nghĩa là một câu, có khi chỉ vài chữ, trích từ Tứ thư hay Ngũ kinh. Sĩ tử phải viết một bài giải nghĩa câu ấy: thánh hiền nói gì, vì sao nói vậy, ý ấy áp vào việc đời ra sao. Bài viết theo cách hiểu đã được công nhận, phần lớn dựa trên lời chú của Chu Hi; tự ý giải khác dễ bị coi là sai.

Bố cục theo khuôn

Bài kinh nghĩa có khuôn khá chặt. Mở bằng phần phá đề, vài câu nói gọn ý chính của đề; tiếp theo là thừa đề, nối và mở rộng ý; rồi đến các đoạn thân bài viết thành từng cặp vế đối nhau, câu dài câu ngắn cân xứng; cuối cùng là phần kết. Tên gọi và số đoạn có khác nhau giữa các sách dạy làm văn, nhưng tinh thần chung là ý phải đi theo trình tự và câu phải đối.

Vì sao bị phê phán

Chính sự gò bó ấy khiến kinh nghĩa về sau bị nhiều người phê phán là lối văn khuôn sáo, thí sinh luyện thuộc mẫu hơn là nghĩ. Tuy vậy, viết được một bài kinh nghĩa đạt cũng đòi hỏi thuộc kinh rất kỹ và kiểm soát câu chữ chặt chẽ.

Chế, chiếu, biểu: vì sao sĩ tử phải tập viết văn bản triều đình?

Ba thể này là văn bản hành chính của triều đình. Chiếu là lời vua ban bố cho thiên hạ; chế là lời vua phong chức, ban thưởng cho một người; biểu là lời quan lại dâng lên vua, như tạ ơn, chúc mừng, trình bày việc. Trong trường thi, sĩ tử phải viết giả lời vua hoặc lời quan theo một tình huống đề bài cho sẵn.

Lý do rất thực tế: người đỗ sẽ làm quan, và làm quan là ngày ngày soạn, đọc những giấy tờ như thế. Một bài biểu phải đúng thể thức xưng hô, đúng mực khiêm cung, dùng điển cố hợp cảnh và thường viết theo lối biền ngẫu, tức câu đối nhau từng cặp. Viết sai tôn ti, dùng chữ phạm húy hay lời lẽ bất kính có thể làm hỏng cả bài.

Đọc lại các bài chiếu, biểu còn lưu, bạn sẽ thấy lối văn này đầy những công thức mở và kết riêng. Biết các công thức ấy giúp đọc nhanh một văn bản triều đình: bỏ qua phần lễ nghi để tìm đúng câu nói việc chính.

Thơ và phú trong trường thi khác thơ ngoài đời ra sao?

Thơ trường thi thường là thơ Đường luật, phải theo luật bằng trắc, niêm, vần, đối chặt chẽ. Đề thường cho sẵn đầu bài, có khi hạn cả vần phải gieo. Đây không phải chỗ để bộc lộ tâm sự riêng; điều được chấm là sự đúng luật, chỗ khéo trong đối, và việc dùng điển hợp đề.

Phú là thể văn vần dài, có đối, kể và tả rộng về một đề tài. Phú trường thi thường là phú luật, có quy định về vần và cách chia đoạn. Một bài phú đạt cần vốn chữ lớn: tả một cảnh, một việc mà không lặp từ, câu nào cũng có cặp đối.

Ngoài trường thi, thơ phú là văn chương; trong trường thi, chúng trở thành bài kiểm tra kỹ thuật. Đó là lý do nhiều bài thơ thi đọc lên đúng nhưng nhạt, và những tác phẩm hay nhất của các nhà Nho lại thường ra đời ngoài trường thi.

Văn sách: trường cuối, bài dài nhất

Văn sách là bài trả lời một loạt câu hỏi của đề, thường chia hai mảng: chuyện xưa trong kinh sử và chuyện đương thời như cai trị, quân sự, nông nghiệp, giáo dục. Sĩ tử phải dẫn sách, so sánh, rồi bày tỏ chủ kiến và đề xuất.

Văn sách thường được coi là thước đo gần nhất với năng lực làm quan: có hiểu biết rộng không, có nhìn ra vấn đề không, có biết đề xuất trong khuôn phép không. Ở thi Đình, bài thi chính cũng là một bài văn sách, gọi là đình đối, trả lời câu hỏi do vua ra.

Vì là trường cuối, văn sách cũng là bài sĩ tử viết khi đã mệt sau nhiều ngày thi. Người luyện thi xưa vì thế tập viết văn sách đều tay từ sớm, gom sẵn những ý lớn về từng vấn đề như trị thuỷ, khuyến nông, tuyển người tài, để vào trường chỉ còn việc sắp xếp và viết cho đúng đề.

Vì sao triều đình chọn thi đủ cả bốn nhóm thể văn?

Đo nhiều mặt cùng lúc. Kinh nghĩa đo sự thuộc và hiểu kinh điển, chế chiếu biểu đo khả năng làm giấy tờ, thơ phú đo vốn chữ và kỹ thuật, văn sách đo tầm hiểu biết và tư duy.

Lọc dần qua từng trường. Ai không qua trường trước thì không vào trường sau, nên số bài phải chấm ở các trường cuối ít hơn và kỹ hơn.

Gắn với công việc thật. Phần lớn thể văn là thứ một viên quan dùng hằng ngày, nên thi cũng là tập nghề.

Giữ một chuẩn mực chung. Cùng một khuôn văn, cùng một cách hiểu kinh, triều đình có được đội ngũ quan lại nói chung một ngôn ngữ.

Đọc lại một bài văn trường thi hôm nay: bắt đầu từ đâu?

Bài thi xưa còn lưu trong các tập văn mẫu và một số văn bản khoa cử. Nếu bạn có trong tay một bài, có thể đọc theo các bước:

  1. Xác định thể văn và trường thi: kinh nghĩa, biểu, phú hay văn sách, vì mỗi thể có khuôn riêng.
  2. Đọc đề trước và tra xuất xứ câu đề nếu là kinh nghĩa.
  3. Tìm phần mở đầu theo khuôn để biết ý chính người viết chọn.
  4. Đánh dấu các cặp câu đối, đọc theo cặp thay vì từng câu rời.
  5. Ghi lại các điển cố, tra nghĩa trước khi dịch.
  6. Đọc lời phê nếu có, để biết quan trường khen chê ở chỗ nào.

Đừng đọc bài văn trường thi như một bài luận hiện đại. Nó là sản phẩm của một khuôn khổ có chủ đích; hiểu khuôn khổ trước rồi mới đánh giá người viết.

Câu hỏi thường gặp

Thi Hương xưa có mấy trường?

Phổ biến là bốn trường: kinh nghĩa, chế chiếu biểu, thơ phú và văn sách. Thứ tự và nội dung từng trường có lúc được điều chỉnh tuỳ triều và tuỳ khoa.

Kinh nghĩa là gì?

Kinh nghĩa là bài giải nghĩa một câu trích trong Tứ thư hoặc Ngũ kinh, viết theo cách hiểu chính thống và theo bố cục có khuôn như phá đề, thừa đề, các đoạn đối và kết.

Chiếu, chế, biểu khác nhau thế nào?

Chiếu là lời vua ban bố cho thiên hạ, chế là lời vua phong chức hay ban thưởng, biểu là lời quan lại dâng lên vua. Sĩ tử viết giả lời theo tình huống đề cho.

Vì sao trường thi có thơ phú?

Thơ phú kiểm tra vốn chữ, kỹ thuật vần, thanh, đối và điển cố. Trong trường thi chúng là bài kiểm tra kỹ thuật, không phải nơi bộc lộ tâm sự riêng.

Văn sách trong thi Hương và thi Đình có giống nhau không?

Cùng là bài trả lời câu hỏi về kinh sử và việc nước. Ở thi Đình, bài văn sách gọi là đình đối, trả lời câu hỏi do vua ra và quyết định thứ bậc người đỗ.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

🧭
Bạn đang ở chặng nào của đường học vị?
Nhập chỗ bạn đang đứng và đích bạn nhắm — công cụ trả về số năm, chi phí và việc phải làm từng chặng.
Xem lộ trình của tôi →
Miễn phí, không cần tài khoản. Xem tất cả công cụ

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.

hoặc
[email protected]