Trẻ học chữ Hán thời xưa thường vỡ lòng bằng vài cuốn sách mỏng, câu ngắn, có vần: Tam tự kinh và Thiên tự văn từ Trung Hoa, cùng những sách người Việt tự soạn như Tam thiên tự, Nhất thiên tự, nơi mỗi chữ Hán đi kèm một chữ Nôm giảng nghĩa.
Muốn hiểu người xưa học thế nào, nhìn vào sách vỡ lòng là nhanh nhất. Những cuốn này cho thấy thầy đồ giải cùng lúc hai bài toán: dạy mặt chữ và dạy đạo lý cho một đứa trẻ chưa đọc nổi câu văn dài. Bài này đi qua từng cuốn, cách đọc mấy câu đầu, lối thầy dạy, và cách bạn dùng lại chúng để tự học chữ Hán hôm nay mà không sa vào học thuộc suông.
Sách vỡ lòng xưa có những cuốn nào?
Không có một bộ giáo trình thống nhất cho cả nước. Mỗi thầy, mỗi vùng chọn sách theo thói quen và theo bản sách có trong tay, nhưng mấy tên dưới đây lặp lại nhiều nhất trong ký ức của các nhà Nho và trong kho sách Hán Nôm còn giữ được.
| Tên sách | Nguồn gốc | Hình thức | Dạy điều gì |
|---|---|---|---|
| Tam tự kinh (三字經) | Trung Hoa, thường được gán cho một học giả đời Tống | Mỗi câu ba chữ, cứ hai câu gieo một vần | Đạo làm người, thứ tự việc học, kiến thức phổ thông về số đếm, mùa, kinh sách, các đời vua |
| Thiên tự văn (千字文) | Trung Hoa, thời Nam Bắc triều | Một nghìn chữ gần như không lặp, câu bốn chữ | Mặt chữ, trời đất, lễ nghi, chuyện xưa; còn dùng làm mẫu luyện thư pháp |
| Tam thiên tự (三千字) | Người Việt soạn | Mỗi chữ Hán kèm một chữ Nôm nghĩa, xâu thành vần | Vốn chữ rộng, nghĩa tiếng Việt nằm ngay cạnh chữ Hán |
| Nhất thiên tự (一千字) | Người Việt soạn | Chữ Hán kèm nghĩa Nôm, ít chữ hơn | Vốn chữ cơ bản cho người mới bắt đầu |
| Ấu học ngũ ngôn thi | Trung Hoa, lưu hành rộng ở nước ta | Thơ năm chữ, mỗi bài bốn câu | Khuyến học, cảnh vật bốn mùa, đạo lý giản dị |
Thứ tự học không cố định. Có thầy cho học Tam thiên tự trước để trẻ có vốn chữ và nghĩa tiếng mẹ đẻ, có thầy mở đầu bằng Tam tự kinh vì câu ngắn, dễ thuộc. Không ít thầy còn tự chép một tập riêng, gom những chữ hay gặp trong giấy tờ làng xã như văn tự, khế ước, để học trò học xong là dùng được ngay.
Đọc mấy câu đầu Tam tự kinh như thế nào?
Đọc từng chữ, rồi đọc cả câu
Câu mở đầu quen thuộc nhất là 人之初,性本善, đọc là nhân chi sơ, tính bản thiện, nghĩa là: người lúc mới sinh, bản tính vốn lành. Tách từng chữ: 人 nhân là người, 之 chi là trợ từ nối, tương tự chữ “của”, 初 sơ là lúc đầu, 性 tính là bản tính, 本 bản là vốn, gốc, 善 thiện là lành, tốt.
Câu tiếp theo, 性相近,習相遠 tính tương cận, tập tương viễn: tính người vốn gần nhau, vì thói quen tập nhiễm mà thành xa nhau. Rồi 苟不教,性乃遷 cẩu bất giáo, tính nãi thiên: nếu không dạy, tính sẽ đổi dời. Và 教之道,貴以專 giáo chi đạo, quý dĩ chuyên: đạo dạy người, quý ở chỗ chuyên nhất.
Nhận ra chữ hư ngay từ mười hai chữ đầu
Chỉ trong bốn câu, trẻ đã gặp mấy chữ hư (hư từ) quan trọng của văn ngôn: 之 chi, 苟 cẩu (nếu), 乃 nãi (bèn, thì), 以 dĩ (lấy, bằng, ở chỗ). Người xưa không giảng ngữ pháp thành bài, nhưng thuộc lòng những câu này là đã có sẵn mẫu dùng hư từ trong đầu. Về sau đọc Luận ngữ, Mạnh Tử, gặp lại 之 hay 以, người học nhận ra ngay vai trò của chúng.
Vì sao học thuộc trước, hiểu sau
Câu ba chữ, hai câu một vần, đọc lên có nhịp như hát. Trẻ năm, sáu tuổi chưa hiểu hết chữ “tính” hay chữ “giáo”, nhưng thuộc được. Thầy giảng dần theo tuổi; có những câu người học phải đến lúc lớn, đọc thêm Mạnh Tử, Tuân Tử mới thấy đó là cả một cuộc tranh luận lớn về bản tính con người. Sách vỡ lòng vì thế là cái khung để treo kiến thức về sau, không phải chỗ hiểu cạn một lần.
Tam thiên tự dạy chữ Hán bằng tiếng Việt ra sao?
Tam thiên tự là sáng tạo đáng chú ý của người Việt: mỗi chữ Hán đặt cạnh một chữ Nôm cùng nghĩa, rồi xâu chuỗi thành câu có vần để dễ thuộc. Mấy chữ mở đầu quen thuộc: 天 thiên trời, 地 địa đất, 舉 cử cất, 存 tồn còn, 子 tử con, 孫 tôn cháu, 六 lục sáu, 三 tam ba.
Đọc liền thành “thiên trời, địa đất, cử cất, tồn còn, tử con, tôn cháu, lục sáu, tam ba”, bạn sẽ nghe ra vần: “đất” bắt vần với “cất”, “còn” với “con”, “cháu” với “sáu”. Chữ Nôm cuối của nhóm trước gọi vần cho chữ Nôm đầu của nhóm sau, nên trẻ đọc trơn một mạch mà không lạc thứ tự.
Lối học này cho hai thứ cùng lúc. Thứ nhất, người học có ngay nghĩa tiếng Việt, khỏi phải chờ thầy giảng. Thứ hai, nó cấy sẵn nền cho từ Hán Việt: biết 子 là con, 孫 là cháu thì gặp “tử tôn” tự hiểu là con cháu; biết 存 là còn thì hiểu “tồn tại”, “bảo tồn”. Với người hôm nay muốn đọc hoành phi, câu đối trong làng, Tam thiên tự vẫn là cuốn mở đầu dễ chịu hơn nhiều so với một cuốn từ điển dày.
Thiên tự văn khó hơn ở chỗ nào?
Thiên tự văn gồm một nghìn chữ gần như không trùng nhau, xếp thành câu bốn chữ có vần. Câu mở đầu: 天地玄黃,宇宙洪荒 thiên địa huyền hoàng, vũ trụ hồng hoang, nghĩa là trời đen huyền, đất vàng, vũ trụ mênh mông hỗn mang. Tiếp theo: 日月盈昃,辰宿列張 nhật nguyệt doanh trắc, thần tú liệt trương, mặt trời mặt trăng đầy rồi xế, các vì sao bày khắp.
Ngay ở câu thứ hai đã có một cái bẫy: chữ 宿 ở đây đọc là tú (vì sao, chòm sao), không phải túc (nghỉ trọ) như trong “túc xá”. Đó là bài học sớm về chữ nhiều âm đọc: âm đi theo nghĩa, phải nhìn văn cảnh mới đọc đúng.
Vì không lặp chữ, mỗi câu Thiên tự văn phải nén nhiều ý, câu chữ gọn mà nghĩa xa, nhiều chỗ dựa vào điển cố. Trẻ nhỏ học thường chỉ thuộc mặt chữ; phần nghĩa sâu để dành cho tuổi lớn. Cũng vì đủ một nghìn chữ khác nhau, các nhà thư pháp hay chép Thiên tự văn làm bài luyện tay: chép trọn một lượt là đã đi qua đủ kiểu nét, kiểu bộ.
Thầy đồ dạy những cuốn này theo trình tự nào?
Ghi chép của các nhà Nho cuối thế kỷ mười chín, đầu thế kỷ hai mươi, khi kể lại thời đi học, khá giống nhau ở trình tự cơ bản dưới đây, dù mỗi lớp có thêm bớt.
- Thầy viết mẫu vài chữ bằng son lên giấy, trò tô mực đè lên nét son cho tới khi tay quen thứ tự nét.
- Thầy đọc trước, trò đọc theo từng câu, đọc to và ngân theo nhịp, lặp nhiều lượt trong ngày.
- Hôm sau trò đọc thuộc trước mặt thầy, gọi là “trả bài”; thuộc rồi mới được học câu mới.
- Thầy giảng nghĩa từng chữ, sau mới giảng ý cả câu, kể thêm chuyện xưa nếu câu có điển.
- Trò tự viết lại câu đã thuộc không nhìn sách; thầy soát lỗi nét, lỗi chữ.
- Khi đã có vài trăm chữ, trò chuyển sang học đối và đọc sách lớn hơn như Luận ngữ.
Trình tự này nặng về luyện nhớ, nhưng không phải nhớ mù: tô chữ gắn tay với mắt, đọc to gắn âm với chữ, trả bài buộc người học ôn đều đặn. Điểm yếu cũng rõ: trẻ học chậm hiểu dễ bị bỏ lại, và nhiều người thuộc làu mà không giải nghĩa được.
Dùng sách vỡ lòng để tự học chữ Hán hôm nay thế nào?
Nếu mục tiêu của bạn là đọc văn cổ, hoành phi, câu đối, gia phả, sách vỡ lòng vẫn là điểm xuất phát tốt. Cách dùng hiệu quả khác lối xưa ở chỗ bạn hiểu song song với thuộc:
- Chọn bản có đủ ba tầng: nguyên văn chữ Hán, phiên âm Hán Việt và dịch nghĩa từng chữ. Bản chỉ có dịch thơ thì không dùng để học chữ được.
- Mỗi buổi học tám đến mười hai chữ, chép tay theo đúng thứ tự nét, đọc to phiên âm.
- Đánh dấu riêng các chữ hư như 之, 而, 以, 乃, 其; đây là những chữ bạn sẽ gặp lại nhiều nhất khi đọc văn ngôn.
- Với Tam thiên tự, tự lập sổ ghép mỗi chữ với hai, ba từ Hán Việt quen thuộc có chứa nó.
- Mỗi tuần ôn lại toàn bộ chữ đã học bằng cách che phần phiên âm và tự đọc.
- Khi gặp chữ nhiều âm đọc như 宿, ghi cả hai âm kèm văn cảnh của từng âm.
Có những việc không cần làm: không cần thuộc trọn Thiên tự văn trước khi đọc sách khác, không cần luyện viết đẹp kiểu thư pháp nếu chỉ muốn đọc, và không cần học phát âm tiếng Trung hiện đại vì người Việt xưa đọc chữ Hán bằng âm Hán Việt.
Lỗi hay gặp khi đọc sách vỡ lòng xưa
Coi bản dịch phổ biến là nguyên văn. Nhiều câu lưu truyền trên mạng là bản dịch thoáng, có khi thêm ý. Luôn đối chiếu với chữ Hán gốc trước khi trích dẫn.
Đọc sai chữ nhiều âm. Ngoài 宿 tú và túc, còn những chữ như 樂 (lạc, nhạc), 行 (hành, hàng) đổi âm theo nghĩa. Đọc theo thói quen sẽ ra nghĩa lệch.
Hiểu câu đạo lý như một kết luận khoa học. “Tính bản thiện” là quan điểm của một trường phái Nho học, chịu ảnh hưởng Mạnh Tử, không phải chân lý được chứng minh. Đọc nó như một ý kiến trong lịch sử tư tưởng thì đúng chỗ hơn.
Bắt trẻ nhỏ thuộc quá dài. Nếu dạy con cháu đọc chữ Hán cho vui, vài câu mỗi tuần kèm chuyện kể là đủ. Không cần biến việc học thành bài kiểm tra, không chấm điểm, không so bé này với bé kia.
Bỏ qua phần chữ Nôm trong Tam thiên tự. Chữ Nôm đi kèm là nửa giá trị của cuốn sách; đọc nó giúp bạn làm quen luôn với cách người xưa ghi tiếng Việt.
Câu hỏi thường gặp
Tam tự kinh có phải sách do người Việt soạn không?
Không. Tam tự kinh là sách vỡ lòng của Trung Hoa, thường được gán cho một học giả đời Tống, được dùng rộng rãi ở nước ta. Sách do người Việt soạn để dạy trẻ là Tam thiên tự, Nhất thiên tự, có chữ Nôm giảng nghĩa.
Câu nhân chi sơ tính bản thiện nghĩa là gì?
Nghĩa là người lúc mới sinh ra, bản tính vốn lành. Câu tiếp theo nói tính người vốn gần nhau, do tập nhiễm mà khác nhau, nên cần được dạy dỗ.
Người lớn mới học chữ Hán nên bắt đầu bằng cuốn nào?
Tam thiên tự hợp với người Việt vì có nghĩa tiếng Việt ngay cạnh chữ Hán và gắn với từ Hán Việt quen thuộc. Tam tự kinh hợp để làm quen hư từ và câu văn ngắn.
Thiên tự văn có thật sự không lặp chữ nào không?
Thiên tự văn được biết đến là gồm một nghìn chữ gần như không trùng nhau. Có nhà nghiên cứu chỉ ra vài chữ lặp hoặc dị thể tuỳ bản, nên khi trích dẫn nên nói là gần như không lặp.
Học sách vỡ lòng có cần biết tiếng Trung không?
Không cần. Người Việt xưa đọc chữ Hán bằng âm Hán Việt và hiểu nghĩa qua tiếng Việt. Muốn đọc văn cổ trong nước, bạn chỉ cần nắm mặt chữ, âm Hán Việt và nghĩa.