Đọc như một văn bản, Kinh Dịch gồm hai lớp: phần kinh là sáu mươi tư quẻ, mỗi quẻ có lời quẻ và sáu lời hào; phần truyện là mười thiên giải thích, gọi là Thập dực. Giá trị triết học và văn chương chủ yếu nằm ở cách hai lớp này đối thoại với nhau.
Bài này không bàn chuyện gieo quẻ hay đoán việc. Với người học cổ văn, Kinh Dịch là cuốn khó nhất của Ngũ kinh, không phải vì huyền bí mà vì cấu trúc lạ: một hệ ký hiệu đi kèm những câu văn cực ngắn, nhiều hình ảnh, rồi lớp giải thích viết muộn hơn với giọng triết lý. Nắm được cấu trúc, bạn đọc được văn bản; nhiều câu trong đó đã đi vào tiếng Việt như thành ngữ.
Cấu trúc của sách: kinh và truyện
Tên gọi đầy đủ thường là Chu Dịch. Bảng tóm các thành phần, theo cách chia thông dụng trong các bản in truyền thống.
| Thành phần | Gồm gì | Đặc điểm khi đọc |
|---|---|---|
| Kinh thượng | Ba mươi quẻ, từ Càn đến Ly | Lời quẻ, lời hào ngắn, nhiều hình ảnh |
| Kinh hạ | Ba mươi tư quẻ, từ Hàm đến Vị tế | Cùng cấu trúc với kinh thượng |
| Thoán truyện (thượng, hạ) | Giải thích lời quẻ | Phân tích theo vị trí các hào |
| Tượng truyện (thượng, hạ) | Giải thích hình tượng quẻ và hào | Có câu “quân tử dĩ …” rút bài học |
| Hệ từ truyện (thượng, hạ) | Luận chung về Dịch | Phần triết học rõ nhất |
| Văn ngôn truyện | Giải riêng quẻ Càn và quẻ Khôn | Văn chương trau chuốt |
| Thuyết quái, Tự quái, Tạp quái | Ý nghĩa tám quẻ đơn; thứ tự quẻ; các cặp quẻ | Ngắn, có tính hệ thống hoá |
Mười thiên truyện được truyền thống gán cho Khổng Tử. Phần lớn giới nghiên cứu hiện nay cho rằng chúng hình thành muộn hơn phần kinh, qua nhiều người và nhiều thời. Khi viết, cách an toàn là nói “truyền thống cho là” thay vì khẳng định.
Đọc ký hiệu: quẻ, hào và cách gọi tên
Hào âm, hào dương và vị trí
Mỗi quẻ có sáu vạch xếp chồng, gọi là hào. Vạch liền là hào dương, vạch đứt là hào âm. Hào được đếm từ dưới lên: sơ, nhị, tam, tứ, ngũ, thượng. Ba hào dưới và ba hào trên mỗi bên là một quẻ đơn trong tám quẻ đơn: Càn, Khôn, Chấn, Tốn, Khảm, Ly, Cấn, Đoài.
Lời hào được gọi bằng một tên ghép vị trí với tính chất: hào dương gọi là “cửu”, hào âm gọi là “lục”. Vì thế mới có tên “sơ cửu” là hào đầu, dương; “lục nhị” là hào thứ hai, âm; “thượng lục” là hào trên cùng, âm. Gặp những tên này trong sách, bạn chỉ cần biết đó là địa chỉ của câu văn, như số câu trong một bài thơ.
Từ vựng đánh giá trong lời hào
Lời quẻ và lời hào hay kết bằng những chữ như cát, hung, hối, lận, vô cữu. Đọc như văn bản, đây là lớp từ vựng đánh giá tình thế: tốt, xấu, ân hận, khó khăn, không lỗi. Người học cổ văn cần biết nghĩa của chúng để hiểu câu, giống như cần biết nghĩa các thuật ngữ pháp lý khi đọc một văn bản luật cổ.
Đọc quẻ Càn như đọc một bài văn
Quẻ Càn mở đầu kinh, gồm sáu hào dương. Lời quẻ chỉ bốn chữ: nguyên, hanh, lợi, trinh. Văn ngôn truyện giải bốn chữ này như bốn đức: lớn đầu tiên, hanh thông, thích đáng, chính bền.
Sáu lời hào kể một hình tượng con rồng đi lên từng bậc. Sơ cửu: tiềm long vật dụng, rồng còn ẩn, chớ dùng. Cửu nhị: hiện long tại điền, rồng hiện ra ở ruộng; chữ 見 ở đây đọc là “hiện”. Cửu tam nói người quân tử suốt ngày gắng gỏi, tối vẫn còn thận trọng. Cửu tứ: rồng có lúc nhảy lên, vẫn còn ở vực. Cửu ngũ: phi long tại thiên, rồng bay trên trời. Thượng cửu: kháng long hữu hối, rồng lên quá cao thì có điều ân hận.
Đọc liền sáu hào, ta có một bài văn ngắn về thời điểm: lúc phải ẩn, lúc ló ra, lúc gắng sức, lúc thử sức, lúc thành tựu, và lúc vượt quá đỉnh. Ý “đừng lên quá cao” ở hào cuối chính là chỗ mà người xưa thấy đáng suy nghĩ nhất, và đó là đọc bằng ngữ văn, không cần đến bất kỳ phép đoán nào.
Tượng truyện của quẻ này có câu được trích rất nhiều: thiên hành kiện, quân tử dĩ tự cường bất tức, trời vận hành mạnh mẽ, người quân tử theo đó tự gắng không ngừng. Quẻ Khôn đi đôi có câu địa thế khôn, quân tử dĩ hậu đức tải vật, thế đất thuận, người quân tử theo đó lấy đức dày mà chở muôn vật.
Hệ từ truyện: phần triết học của Kinh Dịch
Âm dương và đạo. Hệ từ thượng có câu nhất âm nhất dương chi vị đạo, một âm một dương gọi là đạo. Đây là một trong những phát biểu cô đọng nhất về sự vận động qua hai mặt đối đãi, được các nhà Nho đời Tống dùng làm nền cho học thuyết của mình.
Biến và thông. Hệ từ hạ có chuỗi Dịch cùng tắc biến, biến tắc thông, thông tắc cửu, đến chỗ cùng thì biến, biến thì thông, thông thì lâu bền. Thành ngữ “cùng tắc biến” trong tiếng Việt bắt nguồn từ đây.
Chữ Dịch. Truyền thống giải chữ Dịch có ba nghĩa: biến đổi, giản dị và bất biến. Cách hiểu này xuất hiện từ đời Hán. Nắm nó giúp đọc các câu Hệ từ nói về sự thay đổi mà vẫn có quy luật.
Những thành ngữ Hán Việt có gốc từ Kinh Dịch
Biết xuất xứ, bạn dùng đúng sắc thái hơn và nhận ra khi đọc văn cổ.
- Tự cường bất tức: từ Tượng truyện quẻ Càn, chỉ sự tự gắng không ngừng.
- Cùng tắc biến: từ Hệ từ hạ, đến bước đường cùng thì phải thay đổi.
- Kháng long hữu hối: từ hào thượng cửu quẻ Càn, lên quá cao thì có điều phải hối.
- Đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu: từ Văn ngôn truyện quẻ Càn, cùng tiếng thì ứng nhau, cùng khí thì tìm nhau.
- Phương dĩ loại tụ, vật dĩ quần phân: từ Hệ từ thượng, các loại theo loài mà tụ, vật theo bầy mà chia; cách nói quen “vật dĩ loại tụ” là dạng rút gọn biến đổi từ câu này.
Khi trích, nên ghi rõ là lời kinh hay lời truyện, vì hai lớp này cách nhau về thời gian và giọng văn.
Lộ trình đọc Kinh Dịch cho người học cổ văn
Đề xuất dưới đây giả định bạn đã đọc qua Tứ thư và quen hư từ văn ngôn.
- Học thuộc tên tám quẻ đơn và cách gọi hào: sơ, nhị, tam, tứ, ngũ, thượng; cửu, lục.
- Đọc trọn quẻ Càn và quẻ Khôn kèm Văn ngôn truyện, chú ý cấu trúc sáu bậc.
- Đọc Hệ từ thượng và hạ như một bài luận triết học, đánh dấu các câu đã thành thành ngữ.
- Chọn mười quẻ có lời hào giàu hình ảnh, đọc như những bài văn ngắn về một tình thế.
- Đọc Tự quái để thấy người xưa giải thích thứ tự quẻ ra sao, ghi lại các lý do.
- So hai bản chú, chẳng hạn một bản theo Vương Bật đời Nguỵ Tấn, thiên về nghĩa lý, và một bản theo Trình Di hoặc Chu Hi đời Tống.
Lỗi hay gặp là sa vào sách “ứng dụng” rồi tưởng mình đang học Kinh Dịch. Những sách ấy dạy một kỹ thuật dùng quẻ, không dạy đọc văn bản; người học cổ văn nên đọc nguyên văn kèm chú giải học thuật.
Câu hỏi thường gặp
Kinh Dịch gồm những phần nào?
Kinh Dịch gồm phần kinh với sáu mươi tư quẻ, mỗi quẻ có lời quẻ và lời hào, và phần truyện gồm mười thiên giải thích gọi là Thập dực, trong đó có Thoán, Tượng, Hệ từ, Văn ngôn.
Sơ cửu, lục nhị nghĩa là gì?
Đó là tên gọi vị trí và tính chất của hào. Sơ là hào thứ nhất tính từ dưới lên, nhị là hào thứ hai; cửu chỉ hào dương, lục chỉ hào âm.
Câu thiên hành kiện quân tử dĩ tự cường bất tức ở đâu?
Câu này nằm trong Tượng truyện của quẻ Càn, nghĩa là trời vận hành mạnh mẽ, người quân tử theo đó tự gắng không ngừng.
Thập dực có phải do Khổng Tử viết không?
Truyền thống cho là vậy, nhưng phần lớn giới nghiên cứu hiện nay cho rằng Thập dực hình thành muộn hơn phần kinh, qua nhiều người và nhiều thời kỳ.
Có thể đọc Kinh Dịch mà không học bói toán không?
Hoàn toàn được. Người học cổ văn đọc Kinh Dịch như văn bản triết học và ngữ văn: cấu trúc quẻ, lời hào giàu hình ảnh, và phần Hệ từ bàn về biến đổi, âm dương.