Lê Hữu Trác, hiệu Hải Thượng Lãn Ông, là thầy thuốc thế kỷ XVIII nhưng làm sách theo cách của một học giả: ông đọc rộng sách nghề, chọn lọc, sắp xếp thành bộ Hải Thượng y tông tâm lĩnh, và viết Thượng kinh ký sự — một tập ký chữ Hán sắc sảo về chuyến lên kinh đô.
Bài này không bàn về y học hay cách chữa bệnh, phần ấy thuộc về người trong ngành. Ở đây ta nhìn ông như một người làm sách: cách một người từ bỏ đường quan, chọn một nghề, rồi dành mấy chục năm để biến kinh nghiệm nghề ấy thành một bộ sách có hệ thống, và để lại một áng văn xuôi mà học sinh hôm nay vẫn đọc.
Lê Hữu Trác là ai?
Ông sống vào thế kỷ XVIII, mất năm 1791, xuất thân trong một gia đình khoa bảng. Thời trẻ ông từng học binh thư, ra làm việc trong quân, rồi lấy cớ về nuôi mẹ, lui về quê mẹ ở Hương Sơn, nay thuộc tỉnh Hà Tĩnh. Ở đó ông chuyên tâm học nghề thuốc và viết sách.
Hiệu Lãn Ông nghĩa là “ông lười”, một cách tự gọi khiêm nhường kiểu nhà nho: lười việc danh lợi, chứ không lười việc học. Chân dung ông vì vậy là chân dung của một người chọn đứng ngoài quan trường để làm một việc mình tin là có ích.
Các nguồn về năm sinh của ông không thống nhất, thường ghi khoảng giữa thập niên 1720. Khi viết, nên ghi năm mất chắc chắn hơn và nói rõ năm sinh còn có cách ghi khác.
Làm một bộ sách nghề đồ sộ như thế nào?
Đọc sách nghề của người đi trước
Như các học giả Nho học đọc kinh sử, ông đọc rất nhiều sách nghề chữ Hán của Trung Hoa và của người Việt đi trước. Nhưng ông không chép lại nguyên si; ông chọn lọc, giải thích, bổ sung bằng kinh nghiệm của mình, và chỉ ra chỗ không hợp với người và khí hậu nước Nam.
Xếp thành hệ thống
Hải Thượng y tông tâm lĩnh thường được mô tả gồm 28 tập, 66 quyển. Bộ sách được chia thành nhiều phần, từ lý luận cơ bản, đạo đức người làm nghề, tới các phần chuyên sâu và phần ghi các trường hợp ông từng gặp. Cách chia này giống cách một nhà nho chia kinh, sử, tử, tập: từ gốc tới ngọn.
Ghi trường hợp thật
Một phần quý trong bộ sách là những ghi chép về các trường hợp cụ thể ông đã gặp. Đây là lối làm việc của người nghiên cứu thực nghiệm: không chỉ nêu nguyên lý, mà còn cho thấy nguyên lý ấy áp dụng thế nào trong tình huống thật, kể cả những lần không thành.
Viết lâu năm và sửa nhiều lần
Một bộ sách lớn như vậy không thể viết xong trong vài năm. Theo các tài liệu phổ thông, ông soạn trong nhiều chục năm, vừa hành nghề vừa viết, vừa sửa lại những phần đã viết khi có thêm kinh nghiệm. Đây là điểm chung với nhiều học giả xưa: sách là công trình của cả đời, không phải sản phẩm của một đợt cảm hứng.
Ông cũng lo cho việc lưu truyền. Sách chép tay dễ mất, nên các học trò và người đời sau đã chép lại, về sau có những lần khắc in. Như mọi bộ sách cổ lớn, các bản còn lại có chỗ không hoàn toàn giống nhau, và người nghiên cứu ngành phải đối chiếu khi dùng.
Hai trước tác, hai kiểu học vấn
Đặt hai tác phẩm cạnh nhau sẽ thấy một người có hai mặt học thuật khác hẳn.
| Tiêu chí | Hải Thượng y tông tâm lĩnh | Thượng kinh ký sự |
|---|---|---|
| Thể loại | Bộ sách nghề có hệ thống | Ký sự, văn xuôi chữ Hán |
| Đối tượng người đọc | Người học và hành nghề | Người đọc văn chương, người đời sau |
| Cách viết | Chọn lọc, giải thích, xếp theo phần | Kể theo trình tự chuyến đi, tả cảnh, tả người |
| Giá trị với người đọc hôm nay | Tư liệu lịch sử nghề và cách làm sách | Tư liệu đời sống phủ chúa, áng văn ký đặc sắc |
| Ai nên đọc | Người nghiên cứu lịch sử ngành | Học sinh, giáo viên ngữ văn, người mê văn cổ |
Phần chuyên môn của bộ sách nghề nên để người trong ngành đọc và đánh giá; người ngoài ngành chỉ nên đọc như tư liệu lịch sử, không làm theo.
Thượng kinh ký sự kể chuyện gì?
Thượng kinh ký sự ghi lại chuyến ông được triệu từ Hương Sơn lên kinh đô Thăng Long để chữa bệnh cho thế tử trong phủ chúa Trịnh, vào đầu thập niên 1780. Ông kể từ lúc nhận lệnh, đường đi, những ngày ở kinh, tới lúc được về.
Giá trị văn chương của tập ký nằm ở con mắt quan sát. Ông tả cảnh phủ chúa với nhiều lớp cửa, nhiều người hầu, nghi thức rườm rà; tả cái không khí xa hoa mà ngột ngạt; và tả tâm trạng của chính mình, một người quen sống ở núi rừng bỗng phải ở giữa chốn quyền quý. Giọng kể điềm tĩnh, ít bình luận trực tiếp, nhưng người đọc tự thấy được thái độ.
Một đoạn trích của tác phẩm từng có trong chương trình ngữ văn phổ thông, nên nhiều người biết tới ông qua cảnh vào phủ chúa. Đọc toàn bộ tập ký, bạn sẽ thấy thêm nhiều trang tả đường sá, gặp gỡ bạn bè, thơ làm dọc đường — một bức tranh rộng hơn nhiều.
Thể ký trong văn học chữ Hán Việt Nam vốn không nhiều tác phẩm đặc sắc, nên Thượng kinh ký sự thường được nhắc như một mốc của văn xuôi tự sự. Điều làm nên giá trị ấy không phải sự kiện lớn, mà là sự trung thực của người kể: ông ghi cả những lúc lúng túng, những lúc ngần ngại, những suy nghĩ riêng về việc nên hay không nên chữa hết lòng trong hoàn cảnh ấy. Người đọc hôm nay vì vậy gặp một con người cụ thể, không phải một hình mẫu đạo đức được tô vẽ.
Học được gì từ cách làm sách của Lê Hữu Trác?
Học vấn có thể đi qua một nghề. Không phải học giả nào cũng làm kinh sử. Biến kinh nghiệm nghề thành sách có hệ thống cũng là học thuật thật sự.
Đọc người đi trước nhưng không chép mù. Ông chọn lọc và chỉ ra chỗ không hợp hoàn cảnh nước mình, thái độ mà người học hôm nay cần khi đọc tài liệu nước ngoài.
Ghi cả việc chưa thành. Ghi lại trường hợp không như ý giúp người sau tránh lặp lại; đây là sự trung thực học thuật.
Viết ký bằng con mắt quan sát. Thượng kinh ký sự cho thấy ký hay nhờ chi tiết thấy tận mắt, không nhờ lời bình dài.
Đọc về Lê Hữu Trác: lỗi hay gặp
Vì ông nổi tiếng trong cả y học lẫn văn học, người viết bài phổ biến hay mắc mấy lỗi sau:
- Trích các “phương thuốc của Hải Thượng Lãn Ông” lan trên mạng mà không có nguồn văn bản. Phần lớn không truy được về bộ sách gốc, và dù có thì cũng không nên tự áp dụng.
- Đọc Thượng kinh ký sự như bản tố cáo trực diện phủ chúa. Ông viết kín đáo, giọng điềm tĩnh; thái độ nằm trong chi tiết, không nằm trong lời kết tội.
- Coi năm sinh là điều chắc chắn khi các nguồn còn ghi khác nhau.
- Gộp ông với Tuệ Tĩnh thành một hình mẫu chung. Hai người sống cách nhau nhiều thế kỷ, hoàn cảnh và cách làm sách khác hẳn.
Khi viết về ông như một học giả, chỉ cần dựa vào hai trước tác chính và những nét tiểu sử được ghi nhận rộng rãi là đủ một chân dung đầy đặn.
Câu hỏi thường gặp
Lãn Ông nghĩa là gì?
Lãn Ông nghĩa là ông lười, một cách tự gọi khiêm nhường của Lê Hữu Trác, ý nói lười việc danh lợi chứ không lười việc học và việc nghề.
Thượng kinh ký sự viết bằng chữ gì?
Tập ký viết bằng chữ Hán, kể chuyến ông lên kinh đô Thăng Long đầu thập niên 1780. Hiện có bản dịch tiếng Việt và một đoạn từng được dạy trong nhà trường.
Hải Thượng y tông tâm lĩnh có bao nhiêu quyển?
Bộ sách thường được mô tả gồm 28 tập, 66 quyển, chia thành nhiều phần từ lý luận cơ bản đến ghi chép các trường hợp cụ thể.
Lê Hữu Trác sống ở đâu khi viết sách?
Ông lui về quê mẹ ở Hương Sơn, nay thuộc tỉnh Hà Tĩnh, và dành phần lớn đời mình ở đó để học nghề, chữa bệnh và viết sách.
Có nên làm theo các bài thuốc gắn tên ông trên mạng không?
Không nên. Nhiều bài không truy được nguồn gốc văn bản, và việc chữa bệnh cần người có chuyên môn thăm khám, không tự áp dụng theo sách cổ.
Vì sao xếp Lê Hữu Trác vào hàng học giả?
Vì ông đọc rộng, chọn lọc, hệ thống hoá tri thức nghề thành bộ sách lớn và viết ký có giá trị văn chương, đúng với cách làm việc của một học giả.