Nguyễn Văn Siêu (1799–1872), hiệu Phương Đình, là nhà nho Hà Nội thế kỷ XIX, nổi tiếng văn chương, dạy học và viết sách địa chí. Ông gắn với việc tu sửa cụm di tích đền Ngọc Sơn, trong đó có Tháp Bút và Đài Nghiên — hai công trình đá mang biểu tượng chữ nghĩa bên hồ Hoàn Kiếm.
Người dân Hà Nội nhắc ông qua câu “Thần Siêu, Thánh Quát”, đặt ông cạnh Cao Bá Quát như hai cây bút lớn của đất kinh kỳ. Nhưng ngoài tiếng văn, ông còn là một người làm sách cần mẫn và một người thầy. Bài này đi qua cả hai mặt: những gì ông viết và những gì ông dựng.
Nguyễn Văn Siêu học và làm quan thế nào?
Ông đỗ Phó bảng năm 1838, đời Minh Mạng, rồi làm quan một thời gian, từng có chuyến đi sứ phương Bắc. Đường quan không thật suôn sẻ; phần quan trọng nhất trong cuộc đời học thuật của ông diễn ra sau khi về Hà Nội, mở trường dạy học và viết sách.
Phó bảng là học vị đỗ ở kỳ thi Hội nhưng xếp vào bảng phụ, dưới tiến sĩ. Với người đọc hiện đại, chi tiết này nhắc rằng học vị khoa cử không đo hết tầm vóc học vấn: nhiều người đỗ bảng phụ hay chỉ đỗ cử nhân vẫn để lại trước tác lớn hơn người đỗ cao.
Trường học của ông ở Hà Nội thu hút nhiều học trò. Theo các tài liệu phổ thông, ông chú trọng thực học, tức học để hiểu việc đời và việc nước, không chỉ học để thi. Quan niệm này hiện ra rõ trong cách ông chọn đề tài viết sách.
Những trước tác chính của Nguyễn Văn Siêu
Ông viết nhiều, một phần lớn vẫn còn ở dạng chép tay bằng chữ Hán. Dưới đây là những bộ thường được nhắc.
| Trước tác | Loại sách | Có gì đáng chú ý |
|---|---|---|
| Phương Đình văn loại | Văn xuôi chữ Hán, xếp theo loại | Cho thấy văn phong và quan niệm học thuật |
| Phương Đình thi loại | Thơ chữ Hán, xếp theo loại | Gồm cả thơ làm trong chuyến đi sứ |
| Đại Việt địa dư toàn biên | Sách địa chí | Gom và khảo lại tư liệu địa lý nhiều đời |
| Các ghi chép tuỳ bút, khảo cứu | Ghi chép học thuật | Bàn về kinh sử, chữ nghĩa, nhân vật |
Đại Việt địa dư toàn biên còn được gọi là Phương Đình dư địa chí. Khi trích, nên ghi cả hai tên để người đọc tra được.
Sách địa chí của ông khác gì một cuốn địa lý hôm nay?
Sách địa chí xưa khác sách địa lý hôm nay ở chỗ nó gom cả đất đai lẫn con người: sông núi, ranh giới, sản vật, phong tục, di tích, nhân vật, đôi khi cả thơ văn về một vùng. Nó gần với một bộ hồ sơ tổng hợp về đất nước hơn là một giáo trình địa lý tự nhiên.
Nguyễn Văn Siêu làm sách địa chí theo lối khảo: ông đọc các sách địa lý của người đi trước, so chỗ giống chỗ khác, rồi ghi lại kèm nhận xét. Vì vậy sách của ông vừa là tư liệu về đất nước, vừa là tư liệu về cách người thế kỷ XIX đọc lại các sách địa lý cũ hơn. Người nghiên cứu địa danh thường dùng nó để lần tên gọi một vùng qua nhiều thời kỳ.
Khi dùng sách này, cần nhớ hai điều. Thứ nhất, đơn vị hành chính trong sách là của thế kỷ XIX, không khớp với bản đồ hôm nay. Thứ hai, những đoạn ông chép lại từ sách trước vẫn mang độ tin của nguồn gốc, không tự trở nên chắc chắn hơn chỉ vì được ông chép.
Tháp Bút và Đài Nghiên: học vấn được dựng bằng đá
Cây bút viết lên trời xanh
Tháp Bút đứng trên gò Độc Tôn bên bờ hồ, thân tháp năm tầng, đỉnh có hình ngọn bút lông. Trên thân tháp khắc ba chữ Hán Tả thanh thiên (寫青天), nghĩa là “viết lên trời xanh”. Ý tượng ấy rõ ràng: lấy trời làm giấy, lấy tháp làm bút, nói chí khí của người học chữ.
Nghiên mực đỡ cây bút
Đài Nghiên ở cổng phía trong, là một khối đá tạc hình nửa quả đào, đặt trên lưng ba con cóc. Nghiên là thứ mài mực; bút và nghiên đi cùng nhau thành một cặp biểu tượng của việc học. Trên Đài Nghiên có khắc bài minh bằng chữ Hán.
Đọc cụm công trình như một văn bản
Đi từ cầu Thê Húc qua Đài Nghiên vào đền, người tham quan đang đi qua một chuỗi biểu tượng: bút, nghiên, rồi tới nơi tôn vinh văn chương. Nhìn như vậy, cụm di tích là một bài văn viết bằng kiến trúc, do một nhà nho thiết kế. Việc tu sửa được ghi nhận diễn ra vào khoảng giữa thập niên 1860.
Đọc ba chữ Tả thanh thiên thế nào cho đúng?
Ba chữ ấy đọc từ trên xuống: 寫 tả là viết, 青 thanh là xanh, 天 thiên là trời. Ghép lại là “viết lên trời xanh”, không phải “tả trời xanh” theo nghĩa miêu tả. Trong tiếng Việt, chữ “tả” Hán Việt vừa có nghĩa viết vừa thường hiểu là miêu tả, nên người mới dễ dịch nhầm.
Đây là một ví dụ nhỏ nhưng hữu ích cho người học chữ Hán: cùng một âm Hán Việt có thể ứng với nhiều nghĩa, và nghĩa quen trong tiếng Việt hôm nay chưa chắc là nghĩa trong văn cổ. Muốn chắc, tra từ điển Hán Việt theo chữ Hán, không chỉ theo âm.
Khi đưa con cháu đi tham quan, thay vì đọc to biển giới thiệu, bạn có thể chỉ từng chữ trên thân tháp và giải nghĩa. Một lần như thế dễ nhớ hơn mười trang sách.
Vì sao Nguyễn Văn Siêu đáng được đọc lại hôm nay?
Ngoài tiếng văn, có mấy lý do khiến ông là một chân dung học giả đáng tìm hiểu:
- Ông cho thấy một con đường học vấn không cần học vị cao nhất, mà bằng làm sách và dạy học bền bỉ.
- Ông làm sách địa chí, tức là đem học vấn vào việc hiểu đất nước cụ thể, không chỉ bàn suông kinh điển.
- Ông để lại dấu ấn học thuật trong không gian công cộng — điều hiếm gặp ở các nhà nho, khi phần lớn chỉ để lại sách.
- Trước tác của ông phần nhiều chưa được dịch đầy đủ, còn chỗ cho thế hệ sinh viên Hán Nôm hôm nay làm tiếp.
Việc không nên làm khi viết về ông: thổi phồng giai thoại tranh tài văn chương giữa ông và Cao Bá Quát thành chuyện có thật từng chữ. Câu “Thần Siêu, Thánh Quát” là lời khen của người đương thời và đời sau, không phải danh hiệu chính thức.
Một buổi tham quan Tháp Bút theo cách của người học chữ
Lịch trình chừng một giờ, hợp cho cả nhóm sinh viên lẫn gia đình.
- Đứng xa nhìn tổng thể tháp, đếm số tầng và nhìn hình ngọn bút ở đỉnh.
- Lại gần đọc ba chữ trên thân tháp, giải nghĩa từng chữ.
- Đi qua cầu, dừng ở Đài Nghiên, quan sát hình nửa quả đào và ba con cóc đỡ.
- Nhìn các câu đối, hoành phi trong cụm di tích; chụp lại để về tra nghĩa, không cần hiểu hết tại chỗ.
- Về nhà, ghi lại những gì đã thấy và tra thêm về các trước tác của Nguyễn Văn Siêu.
Nhớ giữ trật tự và không chạm tay vào chữ khắc; lớp đá và sơn trên chữ dễ mòn hơn ta tưởng.
Câu hỏi thường gặp
Nguyễn Văn Siêu đỗ học vị gì?
Ông đỗ Phó bảng năm 1838, đời Minh Mạng. Phó bảng là học vị ở kỳ thi Hội nhưng xếp bảng phụ, dưới tiến sĩ.
Ba chữ trên Tháp Bút nghĩa là gì?
Ba chữ Tả thanh thiên nghĩa là viết lên trời xanh. Chữ tả ở đây là viết, không phải miêu tả.
Đài Nghiên có hình dạng thế nào?
Đài Nghiên là khối đá tạc hình nửa quả đào, đặt trên lưng ba con cóc, tượng trưng cho nghiên mài mực đi cùng cây bút là Tháp Bút.
Câu Thần Siêu Thánh Quát nói về ai?
Câu này khen hai cây bút lớn của Hà Nội thế kỷ XIX là Nguyễn Văn Siêu và Cao Bá Quát. Đây là lời truyền tụng, không phải danh hiệu chính thức.
Đại Việt địa dư toàn biên là sách gì?
Đây là sách địa chí của Nguyễn Văn Siêu, còn gọi là Phương Đình dư địa chí, gom và khảo lại tư liệu địa lý của nhiều đời trước.
Trước tác của Nguyễn Văn Siêu đã được dịch hết chưa?
Chưa. Nhiều trước tác của ông vẫn chủ yếu ở dạng chữ Hán, chưa có bản dịch đầy đủ, là đề tài để ngỏ cho người học Hán Nôm.