Nhà Nho Việt hầu như không đọc kinh điển trần trụi: họ đọc qua lớp chú giải, chủ yếu là chú của Chu Hi, học thuộc để làm văn kinh nghĩa khi đi thi, rồi một số người viết sách giảng giải riêng hoặc diễn kinh ra chữ Nôm cho người học dễ hiểu.
Hiểu cách người xưa đọc giúp người đọc hôm nay hai việc. Thứ nhất, đọc được những trang sách Hán Nôm còn giữ trong thư viện và trong nhà, nơi lời kinh và lời chú đan xen. Thứ hai, nhận ra rằng cách hiểu một câu kinh mà ta tưởng là “nguyên ý” thực ra thường là ý của một nhà chú cụ thể, được truyền qua nhiều thế hệ thầy trò.
Kinh, truyện, chú, sớ: các lớp văn bản
Một trang kinh điển truyền thống thường chồng nhiều lớp. Bảng dưới phân biệt các thuật ngữ hay gặp trên nhan đề sách.
| Thuật ngữ | Chữ Hán | Nghĩa | Ví dụ cách dùng |
|---|---|---|---|
| Kinh | 經 | Văn bản gốc được tôn làm chuẩn | Lời trong Luận ngữ, Kinh Thi |
| Truyện | 傳 | Lời giải thích, thuật lại ý của kinh | Tả truyện giải Xuân Thu; phần truyện trong Đại học theo Chu Hi |
| Chú | 注 | Lời chú nghĩa chữ, nghĩa câu | Chú của các nhà học đời Hán, Nguỵ |
| Sớ | 疏 | Giải thích thêm cho lời chú | Các bộ chú sớ đời Đường |
| Tập chú | 集注 | Gom và chọn lời của nhiều nhà, kèm ý mình | Luận ngữ tập chú, Mạnh Tử tập chú của Chu Hi |
| Chương cú | 章句 | Chia chương, ngắt câu và giải thích | Đại học chương cú, Trung dung chương cú |
| Diễn nghĩa, giải âm | 演義, 解音 | Giảng rộng nghĩa; dịch ra tiếng Việt bằng chữ Nôm | Các sách giảng kinh và diễn Nôm của người Việt |
Cùng một câu, lời chú đời Hán và lời chú đời Tống có thể hiểu khác nhau. Người ta hay gọi hai xu hướng lớn là Hán học, chú trọng nghĩa chữ, và Tống học, chú trọng nghĩa lý. Biết sách mình đang đọc thuộc lớp nào, của ai, là bước đầu tiên của đọc kinh điển một cách có phê phán.
Đọc một trang sách có chú như thế nào?
Phân biệt chữ lớn và chữ nhỏ
Trong sách khắc in hay chép tay truyền thống, lời kinh viết chữ lớn, lời chú viết chữ nhỏ, thường xếp hai hàng xen ngay sau câu kinh. Đọc trang sách, việc đầu tiên là tách hai lớp: lấy riêng các chữ lớn đọc liền để có nguyên văn, sau đó mới quay lại đọc chú.
Sách không có dấu câu theo kiểu hiện đại. Một số bản có khuyên tròn hay chấm nhỏ cạnh chữ để đánh dấu chỗ ngắt; nhiều bản không có gì. Ngắt câu là kỹ năng phải tập, và lời chú thường là manh mối tốt nhất, vì nhà chú hay chen lời ngay ở chỗ hết một ý.
Nhận ra lời ai trong lời chú
Tập chú của Chu Hi dẫn lời nhiều nhà trước. Các câu mở bằng “Trình Tử viết”, “Phạm thị viết” là lời người khác được Chu Hi chọn; phần không ghi tên thường là ý của chính ông. Khi trích “theo chú của Chu Hi”, hãy kiểm xem câu đó là lời ông hay lời ông dẫn.
Học kinh để đi thi: lối văn kinh nghĩa
Trong khoa cử, Tứ thư và Ngũ kinh là nội dung bắt buộc. Một thể văn quan trọng là kinh nghĩa: đề lấy một câu hay một đoạn trong kinh, thí sinh phải viết bài giải thích, phát triển ý của câu ấy. Cách học vì thế thiên về thuộc lòng nguyên văn kèm lời chú chuẩn, vì bài làm đi ngược chú giải được chấp nhận rất dễ bị đánh hỏng.
Lối học này có mặt mạnh: người đi học thuộc rất nhiều nguyên văn, trích dẫn chính xác, nắm cách lập luận theo khuôn. Mặt yếu là dễ biến kinh điển thành khuôn mẫu, học để làm văn chứ không để tự hỏi. Nhiều nhà Nho Việt đã tự phê phán điều này trong trước tác của mình.
Chương trình thi, số trường thi và yêu cầu từng kỳ thay đổi theo triều đại; muốn biết chi tiết kỳ nào cần tra sử liệu và các công trình nghiên cứu khoa cử, không nên suy từ một thời sang thời khác.
Một chi tiết giúp hình dung: người đi học xưa thường bắt đầu bằng việc thuộc lòng nguyên văn, có khi chưa hiểu hết, rồi mới được thầy giảng nghĩa theo chú. Thứ tự thuộc trước, hiểu sau ấy ngược với cách học hôm nay, nhưng giải thích vì sao các nhà Nho có thể trích kinh rất nhanh và rất chuẩn trong thơ văn, câu đối, thư từ. Người đọc hiện đại không cần bắt chước hoàn toàn, song thuộc vài trăm câu then chốt vẫn là cách tốt để đọc văn cổ Việt trôi chảy.
Những dấu mốc học kinh của người Việt
Chu Văn An và sách Tứ thư thuyết ước. Sử cũ chép ông soạn sách Tứ thư thuyết ước, tóm lược và giảng giải Tứ thư. Sách nay không còn, nhưng việc được ghi lại cho thấy từ sớm đã có người Việt viết sách giảng kinh của riêng mình.
Diễn kinh ra chữ Nôm. Sử cũ chép Hồ Quý Ly từng dịch thiên Vô dật trong Kinh Thư ra tiếng Việt để dạy. Về sau xuất hiện nhiều sách giải âm, diễn Nôm các kinh, trong đó có bản giải âm Kinh Thi, giúp người học hiểu kinh bằng tiếng mẹ đẻ.
Lê Quý Đôn và lối giảng kinh có khảo cứu. Lê Quý Đôn có sách Thư kinh diễn nghĩa, giảng Kinh Thư, cùng nhiều trước tác khảo cứu khác. Lối làm sách của ông chú trọng đối chiếu, dẫn nguồn, là mẫu mực của học vấn uyên bác thời ấy.
Ý kiến riêng trong khuôn khổ chung. Phần lớn sách giảng kinh của người Việt vẫn dựa trên chú Chu Hi, nhưng có chỗ nêu ý riêng, chọn cách giải khác hoặc tóm gọn cho người mới học. Khi đọc, hãy tìm những chỗ đó; chúng là phần thực sự của học thuật Việt.
Những điều nên tránh khi đọc sách kinh Hán Nôm của người Việt
- Gán cho một tác giả những trước tác chưa rõ nguồn. Nhiều sách chép tay ghi tên người nổi tiếng mà không có căn cứ; hãy tra thư mục Hán Nôm học thuật trước khi khẳng định.
- Coi bản diễn Nôm là bản dịch hiện đại. Giải âm thường bám sát từng chữ, dùng nhiều từ cổ, có khi khó hơn nguyên văn với người đọc hôm nay.
- Đọc lời chú như lời kinh. Luôn tách chữ lớn, chữ nhỏ, và ghi rõ khi trích.
- Suy chương trình thi từ một triều đại cho mọi triều đại.
- Bỏ qua phần tựa, bạt. Lời tựa thường cho biết người soạn là ai, soạn cho ai đọc và dựa theo bản chú nào.
Bắt đầu đọc một cuốn sách kinh Hán Nôm: năm việc làm ngay
Dù là bản chụp số hoá trong thư viện hay một cuốn còn giữ trong nhà, có thể theo trình tự sau.
- Đọc nhan đề, tìm các chữ như tập chú, chương cú, diễn nghĩa, giải âm để biết sách thuộc lớp nào.
- Đọc lời tựa và lời bạt, ghi người soạn, năm khắc nếu có, nơi khắc hoặc chép.
- Chọn một trang, tách chữ lớn và chữ nhỏ, chép riêng nguyên văn kinh.
- Đối chiếu nguyên văn với một bản in hiện đại có dấu câu để tập ngắt câu.
- Đọc phần chú, đánh dấu chỗ người soạn nêu ý riêng hay khác với Chu Hi.
Nếu sách thuộc gia đình, hãy chụp ảnh từng trang với ánh sáng đều trước khi lật nhiều lần. Giấy cũ dễ rách ở gáy; số hoá trước rồi đọc trên ảnh là cách giữ sách lâu nhất.
Câu hỏi thường gặp
Kinh, truyện, chú, sớ khác nhau thế nào?
Kinh là văn bản gốc được tôn làm chuẩn, truyện là lời giải thích thuật lại ý kinh, chú là lời giải nghĩa chữ và câu, sớ là lời giải thích thêm cho chú. Một trang sách thường có nhiều lớp chồng lên nhau.
Nhà Nho Việt chủ yếu học kinh theo chú của ai?
Phần lớn theo chú của Chu Hi đời Tống, nhất là bộ Tứ thư tập chú, vì đó là cách hiểu được dùng làm chuẩn trong học tập và thi cử nhiều thời kỳ.
Văn kinh nghĩa là gì?
Văn kinh nghĩa là thể văn trong khoa cử, đề lấy một câu hay đoạn trong kinh điển, thí sinh viết bài giải thích và phát triển ý câu đó theo cách hiểu được chấp nhận.
Giải âm là gì trong sách Hán Nôm?
Giải âm là dịch nguyên văn chữ Hán ra tiếng Việt, ghi bằng chữ Nôm, thường bám sát từng chữ. Nhiều kinh điển từng có bản giải âm để người học hiểu bằng tiếng mẹ đẻ.
Sách Tứ thư thuyết ước của Chu Văn An còn không?
Sử cũ chép Chu Văn An soạn sách này, nhưng sách đã thất truyền, không còn bản để đọc. Việc được ghi chép cho thấy từ sớm người Việt đã viết sách giảng kinh riêng.
Đọc lời chú có cần phân biệt lời ai không?
Cần. Trong tập chú, nhiều câu là lời các nhà trước được dẫn lại, mở bằng tên người nói. Trích sai người là lỗi hay gặp khi viết về kinh điển.