Nhân là thương người, nghĩa là điều nên làm, lễ là khuôn phép ứng xử, trí là biết phải trái, tín là giữ lời. Năm chữ này mỗi chữ một gốc và một lịch sử riêng; Mạnh Tử nói bốn chữ đầu, đời Hán mới thêm tín, gom thành ngũ thường.
Vì quá quen thuộc, năm chữ này hay bị đọc như một khẩu hiệu đạo đức chung chung. Cách đọc của người học cổ văn thì khác: nhìn cấu tạo chữ, tìm những câu kinh điển dùng chữ ấy, rồi mới hỏi nó nghĩa là gì. Làm vậy, mỗi chữ hiện ra với sắc thái riêng mà bản dịch một từ không chứa nổi.
Năm chữ nhìn từ mặt chữ
Bảng ghi cách phân tích cấu tạo thường được giới thiệu trong sách tự học. Phần chiết tự giúp nhớ chữ; giải thích ý nghĩa của bộ phận chữ có khi là cách hiểu của người đời sau, nên chỉ dùng như gợi ý.
| Chữ | Âm | Bộ phận | Gợi ý ghi nhớ |
|---|---|---|---|
| 仁 | Nhân | 人 người và 二 hai | Đạo lý giữa người với người |
| 義 | Nghĩa | 羊 dê và 我 ta | Điều đúng đắn, nên làm |
| 禮 | Lễ | 示 bộ thị và 豊 đồ lễ | Gốc ở nghi thức, mở rộng thành khuôn phép |
| 智 | Trí | 知 biết và 日 mặt trời | Hiểu biết sáng rõ |
| 信 | Tín | 人 người và 言 lời | Người giữ đúng lời mình nói |
Đừng biến chiết tự thành chứng cứ triết học. Nó là công cụ nhớ mặt chữ; nghĩa của khái niệm phải lấy từ cách văn bản dùng chữ.
Nhân: chữ trung tâm của Luận ngữ
Nhiều câu trả lời cho một câu hỏi
Nhân là khái niệm xuất hiện dày đặc nhất trong Luận ngữ, nhưng sách không cho một định nghĩa duy nhất. Phàn Trì hỏi, thầy đáp ái nhân, thương người. Nhan Uyên hỏi, thầy đáp khắc kỷ phục lễ vi nhân, chế ngự mình để trở về với lễ là nhân. Trọng Cung hỏi, thầy đáp kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân, điều mình không muốn thì đừng làm cho người.
Gom các câu ấy lại, nhân vừa là tình thương, vừa là sự tự chế, vừa là khả năng đặt mình vào chỗ người khác. Đó là phẩm chất tổng hợp, cao nhất, đến mức Khổng Tử hiếm khi nhận là mình hay học trò đã đạt.
Nhân trong Mạnh Tử
Mạnh Tử gắn nhân với lòng trắc ẩn, thứ phản ứng thương xót bột phát khi thấy người khác gặp nạn. Ông còn có câu ngắn: nhân, nhân tâm dã; nghĩa, nhân lộ dã, nhân là lòng người, nghĩa là đường của người. Hai chữ được đặt cạnh nhau như cái bên trong và con đường đi ra ngoài.
Nghĩa, lễ, trí, tín qua những câu kinh điển
Nghĩa. Luận ngữ đặt nghĩa đối với lợi: quân tử dụ ư nghĩa, tiểu nhân dụ ư lợi, người quân tử hiểu rõ về nghĩa, kẻ tiểu nhân hiểu rõ về lợi. Lại có câu kiến nghĩa bất vi, vô dũng dã, thấy việc nghĩa mà không làm là không có dũng. Nghĩa vì thế không chỉ là biết điều đúng, mà là làm điều đúng.
Lễ. Gốc của lễ là nghi thức tế tự và triều nghi, nhưng trong Luận ngữ nó mở rộng thành mọi khuôn phép ứng xử. Khổng Tử nhấn mạnh phần thực chất bên trong: lễ mà không có lòng kính thì chỉ còn là hình thức. Câu nhân nhi bất nhân, như lễ hà, người mà không có nhân thì làm gì được với lễ, cho thấy lễ phụ thuộc vào nhân.
Trí. Câu nổi tiếng nhất: tri chi vi tri chi, bất tri vi bất tri, thị tri dã, biết thì nói là biết, không biết thì nói là không biết, thế mới là biết. Chữ 知 ở cuối câu thường được hiểu như 智, tức trí. Trí ở đây trước hết là trung thực về giới hạn hiểu biết của mình.
Tín. Luận ngữ có câu nhân nhi vô tín, bất tri kỳ khả dã, người mà không có tín thì không biết làm sao được. Tín được so với cái chốt nối càng xe với ách; thiếu nó, xe không đi được.
Năm chữ trở thành ngũ thường như thế nào?
Trong Luận ngữ, năm chữ xuất hiện rải rác, không xếp thành bộ. Mạnh Tử gom bốn chữ nhân, nghĩa, lễ, trí thành bốn đầu mối của tính thiện. Đến đời Hán, Đổng Trọng Thư nói đến “đạo ngũ thường” gồm nhân, nghĩa, lễ, trí, tín, và từ đó năm chữ đi cùng nhau như một bộ chuẩn mực đạo đức.
Cũng từ đời Hán, ngũ thường hay được nhắc cùng tam cương, tức ba mối quan hệ vua với quan, cha con, chồng vợ. Khi đọc văn bản Việt Nam thời trung đại, bạn sẽ gặp cụm “tam cương ngũ thường” rất thường xuyên. Cần nhớ đó là hệ thống hoá về sau, không phải cách Khổng Tử trình bày.
Nhận ra lớp lịch sử này giúp đọc đúng: khi một văn bản Việt nói “ngũ thường”, người viết đang dùng khung đã được hệ thống hoá; khi trích Luận ngữ về nhân, người đọc nên quay về những câu cụ thể trong sách thay vì gán khung ngũ thường vào.
Nhân nghĩa trong văn Việt: đọc một câu của Nguyễn Trãi
Văn chương Việt thời trung đại dùng năm chữ này dày đặc, nhưng không phải lúc nào cũng theo đúng nghĩa trong Luận ngữ. Một ví dụ quen thuộc là câu mở Bình Ngô đại cáo: nhân nghĩa chi cử, yếu tại an dân, việc nhân nghĩa cốt ở yên dân.
Đặt câu này cạnh Mạnh Tử sẽ thấy dấu vết rõ: Mạnh Tử luôn kéo nhân nghĩa về đời sống của dân, coi dân có hằng sản mới có hằng tâm. Nguyễn Trãi đưa nhân nghĩa ra khỏi phạm vi phẩm chất cá nhân, biến nó thành mục đích của một hành động lớn, đo bằng việc dân có được yên hay không.
Bài học cho người đọc văn cổ Việt: gặp chữ nhân, chữ nghĩa, đừng mặc định nó mang đúng nghĩa trong một câu Luận ngữ nào đó. Hãy hỏi người viết đang dựa vào truyền thống nào, Khổng Tử, Mạnh Tử hay cách hiểu đã hệ thống hoá đời sau, và câu văn đang dùng khái niệm để làm gì. Cùng một chữ, trong bài phú, bài cáo, bài văn tế, sắc thái có thể khác nhau khá xa.
Những lối hiểu sai hay gặp
- Hiểu “lễ” chỉ là lễ nghi, lễ vật. Trong kinh điển, lễ còn là trật tự xã hội và cách ứng xử đúng phận.
- Hiểu “nghĩa” chỉ là ân nghĩa, nghĩa tình. Nghĩa trong Luận ngữ và Mạnh Tử là điều đúng nên làm, đối lập với lợi.
- Hiểu “trí” là thông minh, giỏi tính toán. Trí trong kinh điển gắn với phân biệt phải trái và biết giới hạn của mình.
- Coi năm chữ là năm mục riêng rẽ. Văn bản cổ luôn cho chúng tựa vào nhau: lễ dựa trên nhân, nghĩa dẫn đường cho hành động, trí soi xét, tín giữ cho bền.
- Lấy chiết tự làm định nghĩa. Bộ phận của chữ chỉ giúp nhớ, không thay được cách văn bản dùng chữ.
Làm sổ khái niệm năm chữ: việc bắt đầu ngay
Cách học chắc nhất là tự làm sổ, mỗi chữ một trang, bổ sung dần khi đọc.
- Ghi chữ Hán, âm Hán Việt và phần chiết tự ở đầu trang.
- Chép mỗi câu kinh điển có chữ ấy kèm tên sách, tên thiên.
- Ghi nghĩa của chữ trong từng câu bằng lời mình, không chép bản dịch.
- Đánh dấu những câu mà hai bản dịch hiểu khác nhau.
- Cuối tháng, viết một đoạn ngắn: chữ này trong Luận ngữ khác trong Mạnh Tử ở đâu.
Câu hỏi thường gặp
Ngũ thường gồm những gì?
Ngũ thường gồm năm chữ nhân, nghĩa, lễ, trí, tín. Mạnh Tử nói bốn chữ đầu như bốn đầu mối của tính thiện; đời Hán thêm tín và gom thành bộ năm.
Chữ nhân trong Luận ngữ được định nghĩa thế nào?
Luận ngữ không có định nghĩa duy nhất. Khổng Tử trả lời mỗi học trò một cách: thương người, tự chế để trở về với lễ, điều mình không muốn thì đừng làm cho người.
Kỷ sở bất dục vật thi ư nhân nghĩa là gì?
Câu này nghĩa là điều mình không muốn thì đừng làm cho người khác. Đây là một trong những câu trả lời của Khổng Tử khi học trò hỏi về nhân.
Nghĩa trong kinh điển có phải là nghĩa tình không?
Không hẳn. Nghĩa trong Luận ngữ và Mạnh Tử là điều đúng đắn nên làm, thường đặt đối lập với lợi. Nghĩa tình là sắc thái phát triển về sau trong tiếng Việt.
Tam cương ngũ thường có phải do Khổng Tử đặt ra?
Không. Luận ngữ có các chữ ấy nhưng không xếp thành bộ. Cách gom thành tam cương và ngũ thường là hệ thống hoá của Nho học đời Hán, gắn với Đổng Trọng Thư.