Các tiếng gọi như ông Tú, ông Cử, ông Nghè là cách dân gian gọi người theo bậc đỗ: ông Tú là người đỗ tú tài ở thi Hương, ông Cử là cử nhân, ông Cống là hương cống thời Lê, ông Nghè là tiến sĩ. Riêng ông Đồ chỉ người dạy chữ, không phải một học vị.
Những tiếng gọi này còn sống trong văn chương, ca dao, và nhất là trong gia phả, câu đối, văn bia của nhiều dòng họ. Đọc sai một danh xưng có thể khiến bạn ghi nhầm cụ nhà mình đỗ cao hơn hoặc thấp hơn thực tế. Bài này lập bảng các danh xưng, giải thích những tên đổi qua các triều, ba giáp của thi Đình, và những tiếng gọi dễ lẫn với khoa bảng nhưng thật ra là chức việc.
Mỗi danh xưng ứng với bậc học nào?
Bảng dưới gom những tiếng gọi phổ biến nhất, sắp từ người đang học tới người đỗ cao.
| Tiếng gọi | Nghĩa | Kỳ thi liên quan |
|---|---|---|
| Ông Đồ | Người dạy chữ Hán, có thể đã đỗ hoặc chưa | Không gắn với kỳ thi nào |
| Anh Khoá, thầy Khoá | Người đang theo học, chuẩn bị đi thi | Chưa đỗ |
| Ông Tú | Đỗ tú tài, thời Lê gọi sinh đồ | Thi Hương, hạng dưới |
| Tú Kép | Đỗ tú tài hai lần | Thi Hương, đỗ hạng dưới ở hai khoa |
| Ông Cống | Đỗ hương cống thời Lê | Thi Hương, hạng trên |
| Ông Cử | Đỗ cử nhân thời Nguyễn | Thi Hương, hạng trên |
| Ông Phó bảng | Đỗ phó bảng, hạng dưới tiến sĩ thời Nguyễn | Thi Hội |
| Ông Nghè | Đỗ tiến sĩ | Thi Hội rồi thi Đình |
| Ông Trạng | Đỗ trạng nguyên, đứng đầu thi Đình | Thi Đình |
Dân gian còn có những tiếng gọi vui cho người đỗ tú tài nhiều lần hơn nữa, như Tú Mền, Tú Đụp; cách hiểu số lần có khác nhau tuỳ nơi, nên khi gặp trong tư liệu hãy ghi nguyên văn thay vì tự quy đổi.
Cũng nên biết các tiếng gọi này thường đi kèm tên làng hoặc tên riêng, như ông Cử làng bên, ông Tú họ Trần. Trong văn bản chữ Hán chính thức, người ta ghi học vị đầy đủ thay vì tiếng gọi dân gian.
Vì sao cùng một bậc mà có hai tên?
Bậc đỗ ở thi Hương thời Lê gọi là sinh đồ (hạng dưới) và hương cống (hạng trên). Từ đời Minh Mạng nhà Nguyễn, hai tên này được đổi thành tú tài và cử nhân. Vì vậy trong gia phả, một cụ đời Lê được ghi là hương cống, còn một cụ đời Nguyễn đỗ cùng bậc lại ghi là cử nhân. Đây không phải hai bậc khác nhau, mà là cùng một tầng trong hệ thống, đổi tên theo thời.
Khi đọc tư liệu, hãy để ý niên hiệu đi kèm. Gặp chữ 鄉貢 hương cống mà niên hiệu thuộc thời Lê là hợp lý; gặp chữ 舉人 cử nhân mà niên hiệu thời Lê thì nên kiểm lại, có thể đó là bản chép đời sau đã quy đổi tên gọi. Tương tự với 生徒 sinh đồ và 秀才 tú tài.
Phó bảng 副榜 cũng là một bậc mới đặt ra dưới triều Minh Mạng, dành cho những người thi Hội có văn khá nhưng chưa đủ để vào hàng tiến sĩ. Vì vậy, bạn sẽ không gặp danh hiệu phó bảng trong tư liệu thời Lê.
Ba giáp của thi Đình và những tên gọi đi kèm
Người đã đỗ thi Hội vào thi Đình để được xếp thứ bậc. Kết quả chia làm ba nhóm gọi là ba giáp, và mỗi nhóm có tên gọi riêng mà bạn sẽ gặp trên bia đá, sắc phong, gia phả. Hiểu ba giáp giúp bạn đọc đúng một dòng như “đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân” mà không nhầm là đỗ hạng ba.
Đệ nhất giáp: tam khôi
Nhóm cao nhất gồm ba người: trạng nguyên 狀元, bảng nhãn 榜眼, thám hoa 探花, gọi chung là tam khôi, danh hiệu chính thức là tiến sĩ cập đệ. Không phải khoa nào cũng lấy đủ ba người; dưới triều Nguyễn không lấy trạng nguyên.
Đệ nhị giáp: hoàng giáp
Nhóm thứ hai gọi là tiến sĩ xuất thân, dân gian quen gọi là hoàng giáp. Trong gia phả có khi ghi là “đệ nhị giáp tiến sĩ xuất thân”.
Đệ tam giáp: đồng tiến sĩ
Nhóm thứ ba là đồng tiến sĩ xuất thân, đông nhất trong số người đỗ. Dù thuộc nhóm nào, người đỗ đều được dân gian gọi chung là ông Nghè.
Giải nguyên, hội nguyên, đình nguyên, tam nguyên
Người đỗ đầu thi Hương là giải nguyên, đỗ đầu thi Hội là hội nguyên, đỗ đầu thi Đình là đình nguyên. Người đỗ đầu cả ba kỳ được gọi là tam nguyên. Ví dụ quen thuộc nhất trong văn học là Nguyễn Khuyến, được người đời gọi là Tam nguyên Yên Đổ.
Những tiếng gọi dễ lẫn với khoa bảng
Khi lập gia phả hay đọc câu đối thờ, mấy loại tiếng gọi dưới đây hay bị ghi nhầm thành học vị.
Ông Giáo, ông Huấn. Thời Nguyễn, giáo thụ và huấn đạo là chức quan phụ trách việc học ở địa phương. Người giữ chức thường có học vị, nhưng tiếng gọi chỉ chức chứ không chỉ bậc đỗ.
Ông Thông, ông Ký. Đây là chức thông ngôn, ký lục trong bộ máy hành chính thời Pháp thuộc, không liên quan tới thi Hương, thi Hội.
Ông Đồ. Nhiều ông đồ là người đi thi chưa đỗ hoặc đỗ tú tài, ở nhà dạy học. Thấy gia phả ghi “làm nghề dạy học” không có nghĩa là cụ có học vị.
Danh hiệu ban tặng. Có những tước phong, chức hàm triều đình ban sau khi mất hoặc do công trạng, không qua thi. Gặp trong sắc phong thì đừng nhầm thành khoa bảng.
Gặp danh xưng trong gia phả, câu đối: kiểm theo thứ tự nào?
Một dòng ghi chép kiểu “cụ là ông Cử” hay chữ 舉人 trên câu đối thờ cần được đọc cẩn thận:
- Chép nguyên văn chữ Hán hoặc tiếng gọi như trong tư liệu, không quy đổi ngay.
- Xác định thời: tìm niên hiệu, can chi, tên vua đi kèm.
- Đối chiếu danh xưng với thời ấy: sinh đồ, hương cống thời Lê; tú tài, cử nhân, phó bảng thời Nguyễn.
- Tìm tên người trong các sách đăng khoa lục đã xuất bản hoặc danh sách người đỗ của khoa ấy.
- Lưu ý người xưa có tên húy, tên tự, tên hiệu; sách đăng khoa có thể ghi tên khác với gia phả.
- Ghi kết luận kèm mức độ chắc chắn: đã kiểm được, hay chỉ là lời truyền trong họ.
Đừng cố nâng bậc đỗ của tổ tiên cho đẹp gia phả. Một ông Tú thật, có tên trong danh sách khoa thi, có giá trị tư liệu hơn nhiều so với một ông Nghè không kiểm được.
Danh xưng khoa bảng trong văn chương
Nhiều danh xưng đã thành một phần tên gọi của các nhà thơ. Trần Tế Xương được biết đến là Tú Xương vì đỗ tú tài; thơ ông có nhiều bài nói về chuyện thi cử, trường thi, giọng tự giễu. Nguyễn Khuyến với danh xưng Tam nguyên Yên Đổ gắn tên làng với bậc đỗ. Đọc thơ văn cuối thời khoa cử, nhận ra các tiếng gọi này giúp bạn hiểu ngay vị trí xã hội của nhân vật, và nhiều khi hiểu luôn cái ý châm biếm đằng sau. Một câu thơ nhắc ông Cử, ông Nghè có khi là lời khen, có khi là lời mỉa, tuỳ giọng của người viết.
Ca dao cũng đầy những tiếng gọi ấy, từ lời mong con thành ông Nghè, ông Cống tới câu chê ông Đồ nghèo. Chúng cho thấy khoa bảng không chỉ là chuyện của triều đình mà đã đi vào cách người làng nhìn nhau.
Câu hỏi thường gặp
Ông Nghè là gì?
Ông Nghè là tiếng gọi dân gian dành cho người đỗ tiến sĩ, tức đỗ thi Hội rồi thi Đình, dù thuộc đệ nhất, đệ nhị hay đệ tam giáp.
Hương cống và cử nhân khác nhau thế nào?
Cùng là bậc đỗ hạng trên ở thi Hương. Thời Lê gọi là hương cống, từ đời Minh Mạng nhà Nguyễn đổi thành cử nhân. Tương tự, sinh đồ thời Lê đổi thành tú tài.
Tú Kép là gì?
Tú Kép là tiếng gọi người đỗ tú tài hai lần ở hai khoa thi Hương khác nhau. Dân gian còn có những tiếng gọi cho người đỗ nhiều lần hơn, cách hiểu tuỳ nơi.
Tam nguyên nghĩa là gì?
Tam nguyên là người đỗ đầu cả ba kỳ: giải nguyên ở thi Hương, hội nguyên ở thi Hội và đình nguyên ở thi Đình. Nguyễn Khuyến được gọi là Tam nguyên Yên Đổ.
Ông Đồ có phải người đã đỗ đạt không?
Không nhất thiết. Ông Đồ là người dạy chữ Hán, có thể đã đỗ tú tài hoặc chưa đỗ. Tiếng gọi chỉ nghề dạy học chứ không chỉ học vị.
Thời Nguyễn có trạng nguyên không?
Dưới triều Nguyễn không lấy trạng nguyên. Người đỗ đầu thi Đình thời này được gọi là đình nguyên, thường thuộc hàng hoàng giáp hoặc cao hơn tuỳ khoa.