HocThuatCo.comHọc Thuật Cổ
Gửi thư
Khoa cử và trường học xưa

Quan trường chấm văn ra sao: rọc phách, khuyên son, ưu bình thứ liệt

Một bài thi xưa đi qua những tay ai trước khi có kết quả: rọc phách giữ kín tên, nhiều vòng quan chấm, dấu khuyên son, lời phê và bốn hạng ưu, bình, thứ, liệt.

Quan trường chấm văn ra sao: rọc phách, khuyên son, ưu bình thứ liệt

Bài thi xưa thường được che tên trước khi chấm, rồi qua nhiều lượt quan đọc nối tiếp nhau; người chấm đánh dấu khuyên son bên câu hay, viết lời phê, rồi xếp bài vào các hạng như ưu, bình, thứ, liệt để quyết định ai được vào trường sau.

Việc chấm văn là phần ít được kể nhất của khoa cử, dù nó quyết định số phận người thi. Chi tiết từng khoa, từng triều có khác nhau, và nhiều chỗ chỉ biết qua ghi chép rải rác của người đương thời. Bài này gom những nét chung đáng tin: cách giữ kín danh tính, các vòng chấm, ký hiệu trên bài, bốn hạng điểm, và chuẩn văn hay trong mắt quan trường. Cuối bài là vài điều người chấm bài hôm nay có thể học, kể cả những chỗ không nên học.

Vì sao phải giữ kín tên người thi?

Rọc phách

Đầu quyển thi có phần ghi họ tên, quê quán người thi. Trước khi chuyển bài cho quan chấm, phần ấy được rọc ra, gọi là rọc phách, đánh số để sau này ráp lại. Quan chấm chỉ thấy bài văn, không biết của ai, để tránh nể nang hay thù ghét.

Chép lại bài

Ở một số khoa, bài còn được người khác chép lại trước khi chấm, gọi là đằng lục, để quan chấm không nhận ra nét chữ quen. Việc này tốn người, tốn thời gian, nên không phải khoa nào cũng làm như nhau. Khi đọc tư liệu về một khoa cụ thể, bạn nên xem ghi chép của chính khoa ấy.

Giới hạn của các biện pháp

Dù vậy, chuyện gian lận vẫn được ghi lại trong sử sách và giai thoại: đánh dấu bài bằng một chữ hẹn trước, mua chuộc người canh, mang tài liệu vào trường. Các triều đều đặt hình phạt nặng cho quan và thí sinh vi phạm, cho thấy vấn đề có thật và được coi là nghiêm trọng.

Một bài thi đi qua những vòng chấm nào?

Tên gọi các chức quan trường thay đổi theo triều, nhưng nguyên tắc chung là một bài được nhiều người đọc nối tiếp, mỗi người một vòng. Ở thi Hương thời Nguyễn, các ghi chép thường nhắc đến những chức như sơ khảo, phúc khảo, giám khảo, đứng đầu là chủ khảo và phó chủ khảo.

Người chấm vòng đầu đọc toàn bộ bài, đánh dấu, cho hạng sơ bộ. Người chấm vòng sau đọc lại, có thể giữ hoặc đổi hạng. Bài nào hai vòng chênh nhau nhiều thì lên tới quan cao hơn quyết định. Cách tổ chức này giống tinh thần chấm hai vòng độc lập ngày nay: một người dễ sai, nhiều người đọc thì sai số giảm.

Ở thi Đình, người đọc bài là các quan đại thần được cử, cuối cùng vua xem những bài hay nhất và định thứ bậc. Với các bài đỗ cao, lời phê và thứ bậc có khi được chép lại, nhờ đó hậu thế biết quan trường khen chê ở đâu.

Ưu, bình, thứ, liệt: bốn hạng điểm nghĩa là gì?

Thay vì cho điểm số, quan trường xếp bài vào các hạng bằng chữ. Bộ bốn hạng hay được nhắc nhất trong ghi chép về khoa cử thời Nguyễn như sau; cách dùng và hệ quả cụ thể tuỳ quy định từng khoa.

HạngChữ HánNghĩaHệ quả thường thấy
Ưu優Xuất sắcChắc chắn được vào trường sau, có lợi khi xét đỗ cao
Bình平Khá, đạtĐược vào trường sau
Thứ次Tạm được, ở mức thấpCó thể được vào trường sau tuỳ quy định khoa đó
Liệt劣KémBị loại

Kết quả cuối cùng không chỉ dựa vào một bài mà cộng dồn qua các trường. Một người có bài ưu ở trường đầu nhưng liệt ở trường sau vẫn có thể trượt. Vì thế người luyện thi xưa phải đều tay mọi thể văn chứ không chỉ giỏi một thể.

Khuyên, điểm, phê: những dấu son trên bài văn

Ký hiệu cụ thể khác nhau theo người chấm và theo thời, nhưng mấy loại dấu sau được nhắc đến nhiều trong ghi chép về trường thi và lớp học.

Khuyên. Vòng tròn nhỏ bằng son vẽ bên cạnh câu hay. Bài nhiều khuyên là bài được đánh giá cao; câu được khuyên liền mạch cho thấy đoạn văn đẹp.

Điểm. Chấm son nhỏ bên chữ, câu đáng chú ý ở mức thấp hơn khuyên, hoặc dùng để đánh dấu chỗ cần xem lại tuỳ người chấm.

Sổ, xoá. Gạch bên những câu, chữ sai, phạm lỗi hoặc thừa. Bài bị gạch nhiều thường khó đỗ.

Lời phê. Vài câu nhận xét chung ở cuối bài hoặc bên lề: văn ý thông suốt, dẫn sách sai, câu đối non. Lời phê của quan chấm giỏi được học trò đời sau chép lại để học.

Văn hay trong mắt quan trường là văn thế nào?

Gom từ lời phê còn lưu và từ sách dạy làm văn, có thể thấy quan trường xưa đánh giá cao những điểm sau:

  • Đúng đề, hiểu ý đề sâu, không lạc sang ý khác.
  • Thuộc kinh và dẫn chính xác, dùng điển hợp chỗ.
  • Đúng thể thức của từng thể văn, đúng luật thanh, vần, đối.
  • Câu chữ gọn, cân, đọc lên có nhịp; đối khéo mà không gượng.
  • Ý có chiều sâu, nhất là ở văn sách: có nhận định riêng, đề xuất có lý.
  • Chữ viết sạch sẽ, không tẩy xoá nhiều, không phạm húy.

Có một điều cần nói rõ: những tiêu chí này phản ánh chuẩn mực của một nền học thiên về kinh điển và khuôn phép. Văn quá mới, quá khác cách hiểu chính thống, có khi bị đánh giá thấp dù có giá trị.

Những chỗ của lối chấm văn xưa bị chê

Ngay từ thời xưa đã có những tiếng chê cách chấm. Thứ nhất là sự chủ quan: không có biểu điểm chi tiết, hạng của bài phụ thuộc nhiều vào khẩu vị người chấm, và giai thoại về những người giỏi mà trượt nhiều lần không hiếm. Thứ hai là sự nặng về hình thức: một chữ phạm húy, một lỗi thể thức có thể đánh hỏng bài dù ý rất tốt.

Thứ ba là số bài lớn trong thời gian ngắn. Ở những trường thi đông người, quan chấm phải đọc rất nhiều quyển trong ít ngày, dễ mệt và đọc lướt. Những lời than của sĩ tử trượt trong thơ văn cuối thời khoa cử phần nào phản ánh cảm giác bất công này, dù không phải lời nào cũng công bằng với người chấm.

Nhìn từ hôm nay, nên đọc những lời chê ấy cân bằng. Lối chấm xưa có những biện pháp chống thiên vị khá nghiêm như rọc phách, chấm nhiều vòng, phạt nặng quan làm sai. Điều nó thiếu là một bộ tiêu chí công khai, chi tiết để người thi biết mình được đánh giá theo gì, và một cơ chế xem lại bài cho người cho rằng mình bị chấm oan.

Người chấm bài hôm nay có thể học gì, và không nên học gì?

Bỏ qua những phần gắn với thời đại, cách chấm văn xưa vẫn gợi ra vài việc đáng làm khi chấm bài viết:

  1. Che tên học sinh khi chấm bài viết dài, để giảm thiên kiến.
  2. Cho hai người chấm độc lập với bài quan trọng, bàn lại khi lệch nhiều.
  3. Dùng ký hiệu thống nhất bên lề: đánh dấu câu hay chứ không chỉ gạch câu sai.
  4. Viết lời phê ngắn, cụ thể: chỉ ra một chỗ mạnh và một chỗ cần sửa.
  5. Công bố tiêu chí trước để người viết biết mình được đánh giá theo gì.

Điều không nên học: đánh hỏng cả bài chỉ vì một lỗi hình thức nhỏ, và chấm theo khẩu vị riêng thay vì theo tiêu chí. Với trẻ nhỏ, càng không cần xếp hạng hay so sánh; lời nhận xét cụ thể có ích hơn mọi con chữ ưu hay liệt.

Câu hỏi thường gặp

Rọc phách là gì?

Rọc phách là việc cắt rời phần ghi họ tên, quê quán ở đầu quyển thi trước khi chấm, đánh số để ráp lại sau, nhằm giữ kín danh tính người thi với quan chấm.

Ưu bình thứ liệt là gì?

Đó là bốn hạng đánh giá bài thi bằng chữ: ưu là xuất sắc, bình là đạt, thứ là tạm được ở mức thấp, liệt là kém. Hệ quả cụ thể của mỗi hạng tuỳ quy định từng khoa.

Khuyên son trên bài văn có nghĩa gì?

Khuyên là vòng tròn nhỏ vẽ bằng son bên cạnh câu văn hay. Bài được nhiều khuyên là bài được người chấm đánh giá cao.

Đằng lục là gì?

Đằng lục là việc cho người khác chép lại bài thi trước khi chấm, để quan chấm không nhận ra nét chữ của thí sinh. Không phải khoa nào cũng làm như nhau.

Một bài thi xưa có được nhiều người chấm không?

Thường có. Bài đi qua nhiều vòng như sơ khảo, phúc khảo, giám khảo; bài chênh lệch nhiều thì quan cao hơn quyết định. Tên chức và cách làm khác nhau theo triều.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

🧭
Bạn đang ở chặng nào của đường học vị?
Nhập chỗ bạn đang đứng và đích bạn nhắm — công cụ trả về số năm, chi phí và việc phải làm từng chặng.
Xem lộ trình của tôi →
Miễn phí, không cần tài khoản. Xem tất cả công cụ

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.

hoặc
[email protected]