HocThuatCo.comHọc Thuật Cổ
Gửi thư
Khoa cử và trường học xưa

Sĩ tử xưa ôn thi bằng sách gì: kinh, lời chú và tập văn mẫu

Tủ sách của một người luyện thi xưa: Tứ thư, Ngũ kinh, lời chú của Chu Hi, sử Bắc và sử nước nhà, tập văn mẫu các khoa, cùng cách người nghèo tự chép sách và tự lập lịch ôn.

Sĩ tử xưa ôn thi bằng sách gì: kinh, lời chú và tập văn mẫu

Sĩ tử xưa ôn thi chủ yếu bằng Tứ thư, Ngũ kinh kèm lời chú được triều đình công nhận, phần lớn theo Chu Hi; thêm sách sử Trung Hoa và sử nước nhà để làm văn sách; và các tập văn mẫu, bài thi của những khoa trước để luyện đúng khuôn trường thi.

Nhìn vào tủ sách của một người luyện thi, bạn hiểu ngay khoa cử đo những gì. Nó không đòi đọc rộng mọi thứ, mà đòi thuộc thật sâu một số sách nhất định, hiểu theo một cách nhất định, và viết được theo khuôn. Bài này kể ra các nhóm sách ấy, giải thích vì sao lời chú quan trọng chẳng kém nguyên văn, cách những người nhà nghèo xoay xở khi sách đắt, và cách người hôm nay có thể dùng lại chính những cuốn sách ấy.

Tủ sách của người luyện thi gồm những nhóm nào?

Danh mục cụ thể thay đổi theo người và theo thời, nhưng các nhóm dưới đây hầu như ai đi thi cũng phải có.

Nhóm sáchGồm những gìDùng cho phần thi nào
Tứ thưĐại học, Trung dung, Luận ngữ, Mạnh TửKinh nghĩa, và là nền cho mọi thể văn
Ngũ kinhKinh Thi, Kinh Thư, Kinh Dịch, Kinh Lễ, Kinh Xuân ThuKinh nghĩa, điển cố trong thơ phú
Lời chú chính thốngChú giải Tứ thư của Chu Hi và các bộ chú tập hợp như Tứ thư ngũ kinh đại toànHiểu kinh theo đúng cách quan trường chấp nhận
Sử sáchSử Trung Hoa như Sử ký, Tư trị thông giám; sử nước nhà các triều biên soạnVăn sách, điển cố
Văn mẫuTập bài thi đỗ, bài văn của các thầy giỏi, sách dạy làm vănLuyện khuôn từng thể văn
Sách tra cứuTừ điển chữ, sách gom điển cố theo chủ đềTra khi luyện, không mang vào trường

Nhìn bảng sẽ thấy sách nhiều, nhưng phần phải thuộc làu chỉ là Tứ thư và một phần Ngũ kinh. Phần còn lại là để đọc, ghi chép và trích dùng khi cần.

Vì sao Tứ thư là bộ sách lõi?

Tứ thư gồm bốn sách ngắn hơn nhiều so với Ngũ kinh, nhưng chứa những khái niệm nền của Nho học: nhân, nghĩa, lễ, trí, tín, tu thân, chính danh, trung dung. Đề kinh nghĩa phần lớn lấy từ đây, và gần như mọi bài văn trường thi đều phải dẫn Tứ thư ở đâu đó.

Người luyện thi đọc Tứ thư nhiều lượt trong đời. Lượt đầu là học thuộc nguyên văn từ thuở nhỏ. Lượt sau là học kèm lời chú. Lượt sau nữa là đọc để tìm ý làm văn: câu nào có thể ra đề, câu nào nên dẫn khi bàn về việc chọn người tài, việc giáo hoá. Một ông đồ giỏi có thể đọc một câu Luận ngữ và nói ngay nó nằm ở thiên nào, câu trước câu sau là gì.

Lời chú quan trọng chẳng kém nguyên văn

Hiểu theo Chu Hi

Từ khi Nho học Tống, đặc biệt cách chú giải của Chu Hi, được các triều chọn làm chuẩn, bài thi phải hiểu kinh theo lời chú ấy. Một câu trong Luận ngữ có thể có nhiều cách giảng, nhưng trong trường thi chỉ một cách được coi là đúng. Viết khác lời chú, dù có lý, dễ bị đánh giá thấp.

Các bộ chú tập hợp

Bộ Tứ thư ngũ kinh đại toàn soạn dưới triều Minh gom nguyên văn kinh và lời chú của nhiều nhà vào một chỗ, được dùng rộng rãi ở nước ta. Với người luyện thi, đây vừa là sách học vừa là chuẩn tham chiếu.

Hệ quả cho người đọc hôm nay

Khi đọc một bài kinh nghĩa xưa, bạn cần biết người viết đang giảng theo lời chú nào, nếu không sẽ tưởng họ hiểu sai nguyên văn. Ngược lại, khi tự đọc Luận ngữ hôm nay, bạn có thể đặt lời chú của Chu Hi cạnh những cách giảng khác để thấy một câu kinh mở ra nhiều hướng.

Sách sử và văn mẫu: luyện cho văn sách và cho khuôn bài

Văn sách đòi dẫn chứng từ sử, nên sĩ tử phải đọc sử Trung Hoa, từ Sử ký của Tư Mã Thiên tới các bộ thông giám, và sử nước nhà do các triều biên soạn. Người ta thường ghi chép theo chủ đề: các đời trị thuỷ ra sao, chính sách về ruộng đất thế nào, những vua giỏi chọn người ra sao, để khi gặp đề có ngay căn cứ.

Văn mẫu là phần thực dụng nhất. Bài thi của những người đỗ cao được chép lại, truyền tay, có khi in thành tập. Người luyện thi đọc để học cách phá đề, cách đặt câu đối, cách mở bài đình đối. Lợi là học nhanh khuôn bài; hại là dễ thành bắt chước, nhiều bài thi ra na ná nhau, điều mà chính quan trường xưa đã phàn nàn.

Nhà nghèo xoay xở với sách ra sao?

Sách in mộc bản và sách chép tay đều không rẻ đối với nhà nông. Có mấy cách mà các hồi ký, giai thoại hay nhắc tới.

Tự chép sách. Mượn sách của thầy, của bạn rồi chép lại bằng tay. Một bộ Tứ thư chép tay có thể mất nhiều tháng, nhưng chép xong là đã đọc kỹ một lượt.

Học chung, đọc chung. Vài người góp lại mua hoặc mượn một bộ, chia nhau thời gian đọc, cùng bình văn.

Theo thầy có sách. Theo học một thầy có tủ sách lớn là cách tiếp cận sách nhiều nhất. Một phần lý do học trò tìm tới thầy giỏi là vì sách của thầy.

Học thuộc thay cho sở hữu. Khi không có sách trong tay, trí nhớ thành chỗ chứa. Thói quen học thuộc của người xưa có một phần gốc rễ ở chỗ thiếu sách.

Một lịch ôn thi thường được kể lại ra sao?

Không có giáo trình chung, nhưng ghi chép của những người từng đi thi cho thấy vài nhịp quen thuộc:

  • Buổi sáng đọc kinh, ôn lại phần đã thuộc, học thêm vài chương mới.
  • Buổi chiều tập làm văn theo một thể, thường theo đề thầy ra.
  • Định kỳ có buổi bình văn, cả lớp đọc bài, thầy phê.
  • Gần kỳ thi, tập trung luyện những thể văn mình còn yếu, viết đủ bài trong thời gian giới hạn.
  • Đọc lại những bài văn mẫu của khoa trước để nắm xu hướng ra đề.

Lịch này kéo dài nhiều năm, có người học vài chục năm vẫn đi thi. Sức bền ấy vừa đáng nể vừa cho thấy khoa cử chiếm trọn đời sống của một tầng lớp, đôi khi tới mức người ta ít còn thời giờ cho những tri thức không nằm trong đề thi.

Đọc lại tủ sách luyện thi xưa hôm nay: bắt đầu thế nào?

Nếu bạn muốn đọc Tứ thư hay một phần Ngũ kinh với tư cách người học cổ học, không phải người đi thi, có thể theo thứ tự:

  1. Bắt đầu bằng Luận ngữ vì câu ngắn, nhiều đối thoại, dễ vào hơn Đại học hay Trung dung.
  2. Chọn bản có nguyên văn chữ Hán, phiên âm, dịch nghĩa và chú thích; đọc chậm từng chương.
  3. Đặt lời chú của Chu Hi cạnh một cách giảng khác để thấy câu kinh có nhiều tầng.
  4. Sang Mạnh Tử khi đã quen, vì văn biện luận dài hơn, nhiều ví dụ.
  5. Đọc một bài kinh nghĩa hay văn sách xưa có trích câu bạn đã học, để thấy sĩ tử dùng câu ấy thế nào.

Không cần đọc theo kiểu luyện thi: không phải thuộc lòng, không phải chấp nhận một cách giảng duy nhất. Hãy đọc như đọc một hệ tư tưởng và một nền văn bản, ghi lại câu bạn thấy đáng nghĩ, và tự đặt câu hỏi vì sao người xưa coi nó là trung tâm của việc học.

Câu hỏi thường gặp

Tứ thư gồm những sách nào?

Tứ thư gồm Đại học, Trung dung, Luận ngữ và Mạnh Tử. Đây là bộ sách lõi của việc học và thi cử Nho học, phần lớn đề kinh nghĩa được lấy từ đây.

Ngũ kinh gồm những sách nào?

Ngũ kinh gồm Kinh Thi, Kinh Thư, Kinh Dịch, Kinh Lễ và Kinh Xuân Thu. Chúng dài và khó hơn Tứ thư, được dùng cho kinh nghĩa và làm nguồn điển cố.

Vì sao sĩ tử phải học lời chú của Chu Hi?

Vì các triều chọn cách chú giải của Chu Hi làm chuẩn cho thi cử. Bài thi giảng kinh khác lời chú dễ bị đánh giá thấp dù có lý.

Tứ thư ngũ kinh đại toàn là gì?

Đó là bộ sách soạn dưới triều Minh, gom nguyên văn Tứ thư, Ngũ kinh và lời chú của nhiều nhà. Ở nước ta, bộ này được dùng rộng rãi làm sách học và chuẩn tham chiếu.

Người hôm nay nên đọc Tứ thư bắt đầu từ cuốn nào?

Nên bắt đầu bằng Luận ngữ vì câu ngắn, nhiều đối thoại, dễ vào. Chọn bản có nguyên văn, phiên âm, dịch nghĩa và chú thích để đọc chậm từng chương.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

🧭
Bạn đang ở chặng nào của đường học vị?
Nhập chỗ bạn đang đứng và đích bạn nhắm — công cụ trả về số năm, chi phí và việc phải làm từng chặng.
Xem lộ trình của tôi →
Miễn phí, không cần tài khoản. Xem tất cả công cụ

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.

hoặc
[email protected]