Văn ngôn giống tiếng Việt ở trật tự chủ ngữ, động từ, tân ngữ, nhưng ngược ở chỗ định ngữ đứng trước danh từ, câu phán đoán không cần chữ “là”, tân ngữ là đại từ nghi vấn hoặc nằm trong câu phủ định thường nhảy lên trước động từ. Nhận ra ba điểm này là gỡ được phần lớn câu “khó hiểu”.
Người Việt học văn ngôn có một lợi thế ít người nói tới: phần lớn câu đơn xếp chữ theo đúng thứ tự mình nói hằng ngày. 吾讀書 ngô độc thư — ta đọc sách: chủ ngữ, động từ, tân ngữ, không có gì lạ. Cái khó nằm ở vài chỗ đảo có quy luật. Biết trước chúng ở đâu thì đọc không còn cảm giác chữ nào cũng đúng mà cả câu lại sai.
Định ngữ đứng trước: lý do Hán Việt nghe “ngược”
Trong văn ngôn, từ bổ nghĩa đứng trước từ được bổ nghĩa. 明月 minh nguyệt là trăng sáng, 故鄉 cố hương là quê cũ, 南國 Nam quốc là nước Nam. Tiếng Việt thuần thì ngược lại: danh từ chính đứng trước, từ bổ nghĩa theo sau.
Đây cũng là lý do nhiều từ Hán Việt đọc lên nghe như đảo: “quốc ca” là bài ca của nước, “học đường” là nhà để học. Khi dịch cụm danh từ văn ngôn, quy tắc an toàn là đọc từ phải sang trái: chữ cuối là đầu mối, các chữ trước nó là định ngữ. Cụm dài như 古之學者 cổ chi học giả cũng thế: người học (thời) xưa.
Câu phán đoán không có chữ “là”
Tiếng Việt cần chữ “là” để nói A là B. Văn ngôn phổ biến dùng khuôn 者…也: 陳勝者,陽城人也 Trần Thắng giả, Dương Thành nhân dã — Trần Thắng là người đất Dương Thành. Có khi chỉ có 也 cuối câu, có khi chỉ đặt hai danh từ cạnh nhau.
Phủ định câu phán đoán thì dùng 非 phi: Trang Tử chép lời Huệ Tử 子非魚,安知魚之樂 Tử phi ngư, an tri ngư chi lạc — ông không phải là cá, sao biết niềm vui của cá. Chữ 是 thị trong văn cổ phần nhiều là đại từ “này, đó”, không phải hệ từ “là” như tiếng Hán hiện đại. Câu 是知也 nghĩa là “thế (ấy) mới là biết”, chữ 是 chỉ lại điều vừa nói.
Tân ngữ nhảy lên trước động từ: ba trường hợp
Tân ngữ là đại từ nghi vấn
Khi hỏi “ai, gì, đâu”, đại từ nghi vấn đứng trước động từ. Luận ngữ chép lời Khổng Tử: 吾誰欺?欺天乎 Ngô thuỳ khi? Khi thiên hồ? — ta lừa ai? lừa trời ư? Thứ tự từng chữ là “ta ai lừa”; dịch phải đưa “ai” về sau.
Tân ngữ là đại từ trong câu phủ định
Có chữ phủ định như 不, 未, 莫 mà tân ngữ là đại từ, đại từ thường đứng trước động từ. 不患人之不己知 — không lo người ta không biết mình, thứ tự gốc là “không mình biết”. Mạnh Tử viết 保民而王,莫之能禦也 bảo dân nhi vương, mạc chi năng ngự dã — giữ yên dân mà làm vương thì không ai ngăn nổi.
Tân ngữ được nhấn bằng 之 hoặc 是
Câu 何陋之有 hà lậu chi hữu trong Luận ngữ — có gì là quê mùa đâu. Tân ngữ 何陋 được đưa lên trước, chữ 之 đánh dấu sự đảo. Mẫu này hay gặp trong lời phản bác.
Vị ngữ đứng đầu câu và định ngữ đứng sau
Khi người nói muốn nhấn cảm xúc, vị ngữ có thể đứng trước chủ ngữ. Liệt Tử chép lời trách Ngu Công: 甚矣,汝之不惠 Thậm hĩ, nhữ chi bất huệ — quá lắm rồi, cái sự kém sáng suốt của ông. Dịch xuôi theo tiếng Việt là “ông kém sáng suốt quá lắm”, nhưng nên giữ chút giọng thốt lên của nguyên văn.
Ngược lại, có lúc định ngữ dài bị đẩy ra sau danh từ, khép lại bằng 者. Sử ký có câu 求人可使報秦者,未得 cầu nhân khả sử báo Tần giả, vị đắc — tìm người có thể sai đi trả lời nước Tần mà chưa được. Cụm “可使報秦” bổ nghĩa cho 人 nhưng đứng sau nó; 者 là chữ khép.
Thành phần bị lược: chủ ngữ đổi mà không báo
Một kiểu khó khác không phải đảo mà là lược. Văn ngôn rất hay bỏ chủ ngữ khi người đọc có thể tự suy ra, và chủ ngữ có thể đổi giữa hai câu liền nhau mà không có chữ nào báo hiệu. Trong chuyện ôm cây đợi thỏ, 兔走觸株,折頸而死 có chủ ngữ là con thỏ; ngay sau đó 因釋其耒而守株 lại có chủ ngữ là người cày ruộng, dù chữ người không xuất hiện lại. Người mới đọc liền một mạch dễ hiểu thành con thỏ bỏ cày, một câu nghe vô lý tới mức tự lộ ra chỗ sai.
Tân ngữ cũng hay bị lược, nhất là sau động từ đã có tân ngữ ở câu trước. Câu dịch tiếng Việt thường phải thêm lại các thành phần này cho rõ; đó không phải là thêm ý mà là trả lại thứ người viết cố ý để trống.
Cách làm an toàn: với mỗi động từ, hỏi ai làm và làm gì cho ai, rồi ghi chú bằng bút chì bên lề. Câu nào bạn phải thêm chủ ngữ khác với câu trước thì đánh dấu; đó là chỗ người đọc sau dễ hiểu lầm nhất, và cũng là chỗ bản dịch nên viết rõ nhất.
Hiện tượng lược thành phần cũng giải thích vì sao bản dịch văn cổ thường dài hơn nguyên văn khá nhiều. Một câu bốn chữ có thể cần mười chữ tiếng Việt, vì phải trả lại chủ ngữ, tân ngữ và các chữ nối mà nguyên văn để người đọc tự hiểu. Bản dịch ngắn bằng nguyên văn thường là bản dịch đã bỏ sót ý.
Bảng các kiểu trật tự khác tiếng Việt
Bảng gom các kiểu đảo thường gặp, cách nhận và cách dịch.
| Kiểu | Dấu hiệu | Ví dụ | Thứ tự từng chữ | Dịch tự nhiên |
|---|---|---|---|---|
| Định ngữ trước danh từ | hai danh từ hoặc tính từ đứng liền | 故鄉 | cũ quê | quê cũ |
| Câu phán đoán | 者…也, không có là | 陳勝者,陽城人也 | Trần Thắng, người Dương Thành | Trần Thắng là người Dương Thành |
| Đảo đại từ nghi vấn | 誰 何 安 đứng trước động từ | 吾誰欺 | ta ai lừa | ta lừa ai |
| Đảo đại từ trong câu phủ định | 不 未 莫 + đại từ + động từ | 莫之能禦 | không ai nó ngăn được | không ai ngăn nổi |
| Nhấn tân ngữ bằng 之 | tân ngữ + 之 + động từ | 何陋之有 | gì quê mùa có | có gì quê mùa đâu |
| Đảo vị ngữ | tính từ + 矣 đứng đầu | 甚矣,汝之不惠 | quá rồi, ông kém sáng | ông kém sáng suốt quá |
| Định ngữ sau, khép bằng 者 | danh từ + cụm + 者 | 求人可使報秦者 | tìm người có thể sai báo Tần | tìm người có thể sai sang Tần |
Thứ tự kiểm khi gặp câu đọc không ra nghĩa
Năm bước dưới đây đi từ trường hợp hay gặp nhất tới ít gặp nhất. Phần lớn câu tắc được gỡ ngay ở bước hai.
Bước một, tìm động từ chính. Mỗi câu thường xoay quanh một động từ; tìm được nó là biết đâu là chủ ngữ, đâu là tân ngữ.
Bước hai, xem có chữ phủ định hay đại từ nghi vấn không. Có thì nghĩ ngay đến khả năng tân ngữ đã nhảy lên trước động từ.
Bước ba, xem cuối câu có 也 và giữa câu có 者 không. Có thì đây có thể là câu phán đoán, thêm chữ là khi dịch.
Bước bốn, đọc cụm danh từ từ phải sang trái. Chữ cuối là đầu mối, chữ trước là định ngữ.
Bước năm, nếu vẫn tắc, kiểm xem vị ngữ có bị đưa lên đầu không. Câu cảm thán hay đảo vị ngữ để nhấn mạnh.
Câu hỏi thường gặp
Văn ngôn có trật tự giống tiếng Việt không?
Phần lớn câu đơn giống: chủ ngữ, động từ, tân ngữ. Khác biệt chính là định ngữ đứng trước danh từ, câu phán đoán không cần chữ là và một số trường hợp tân ngữ đại từ đứng trước động từ.
Vì sao từ Hán Việt hay nghe như bị đảo?
Vì trong văn ngôn từ bổ nghĩa đứng trước từ chính, còn tiếng Việt thuần đặt từ chính trước. Quốc ca là ca của nước, đọc theo lối Việt sẽ thành ca quốc.
Chữ 是 trong văn cổ có nghĩa là là không?
Phần nhiều không. Trong văn ngôn sớm, thị thường là đại từ này, đó, chỉ lại điều vừa nói. Nghĩa hệ từ là phổ biến dần về sau.
Khi nào tân ngữ đứng trước động từ?
Hay gặp nhất khi tân ngữ là đại từ nghi vấn như ai, gì, hoặc là đại từ trong câu có chữ phủ định như bất, vị, mạc. Ngoài ra tân ngữ được nhấn bằng chữ chi hoặc thị.
Dịch câu đảo có cần giữ nguyên thứ tự không?
Không cần giữ thứ tự từng chữ, vì câu dịch phải là tiếng Việt tự nhiên. Nhưng nên giữ sắc thái: câu đảo vị ngữ thường mang giọng cảm thán, câu đảo tân ngữ hay mang giọng hỏi vặn.