Tứ thư gồm Đại học, Trung dung, Luận ngữ, Mạnh Tử; Ngũ kinh gồm Kinh Thi, Kinh Thư, Kinh Lễ, Kinh Dịch và Kinh Xuân Thu. Người mới nên bắt đầu từ Luận ngữ, đọc hết Tứ thư rồi mới bước sang Ngũ kinh, để Kinh Dịch lại sau cùng.
Nghe “Tứ thư Ngũ kinh” nhiều người hình dung một chồng sách đồng loạt, cùng một giọng, cùng một thời. Thực ra đây là chín văn bản ra đời cách nhau hàng trăm năm, viết bằng những thể văn rất khác nhau: có cuốn là thơ ca dân gian, có cuốn là văn kiện triều chính, có cuốn là lời nói ghi lại, có cuốn là hệ thống ký hiệu kèm lời đoán giải. Hiểu chúng khác nhau thế nào là bước đầu để chọn đúng cuốn mà đọc, khỏi bỏ cuộc ngay trang đầu.
Tứ thư và Ngũ kinh khác nhau ở đâu?
Ngũ kinh là lớp sách cổ hơn, hình thành từ trước và trong thời Khổng Tử, được Nho gia coi là văn bản gốc của văn hoá nhà Chu. Thời Chiến Quốc người ta còn nói đến “Lục kinh”, tức thêm Kinh Nhạc, nhưng Kinh Nhạc không truyền lại thành sách riêng, nên đời sau chỉ còn năm. Ngũ kinh không do một người viết; nhiều phần được Khổng Tử và học trò sưu tập, chỉnh lý, dùng làm giáo trình.
Tứ thư là một bộ được gom lại muộn hơn nhiều. Luận ngữ ghi lời Khổng Tử và học trò, Mạnh Tử ghi lời Mạnh Kha, còn Đại học và Trung dung vốn là hai thiên nằm trong sách Lễ ký. Đến đời Tống, Chu Hi tách hai thiên ấy ra, đặt cạnh Luận ngữ và Mạnh Tử, viết chú giải cho cả bốn và gọi chung là Tứ thư. Từ đó Tứ thư trở thành cửa vào bắt buộc của người đi học, còn Ngũ kinh là phần học sâu.
Hệ quả cho người đọc hôm nay: Tứ thư ngắn, giọng gần lời nói, khái niệm được nêu trực tiếp; Ngũ kinh dài hơn, chữ cổ hơn, nhiều chỗ phải có chú mới hiểu. Đi từ Tứ thư sang Ngũ kinh là đi từ dễ sang khó, từ lời giảng sang văn bản gốc mà lời giảng ấy dựa vào.
Mỗi sách nói gì, viết theo thể gì và khó tới đâu?
Bảng dưới gom chín cuốn theo ba tiêu chí người tự học hay hỏi nhất. Mức khó là so sánh tương đối giữa các cuốn với nhau, tính cho người đã biết vài trăm chữ Hán thông dụng.
| Sách | Nội dung chính | Thể văn | Mức khó |
|---|---|---|---|
| Luận ngữ | Lời Khổng Tử và học trò về học, đạo làm người, việc chính sự | Ghi lời nói, chương rất ngắn | Dễ vào, khó đọc sâu |
| Mạnh Tử | Tính thiện, nhân chính, tranh luận với các phái khác | Đối thoại và nghị luận dài | Vừa |
| Đại học | Ba cương lĩnh, tám điều mục: từ tu thân đến trị nước | Luận văn ngắn, lập luận theo chuỗi | Vừa |
| Trung dung | Tính, đạo, giáo; trung hoà; chữ thành | Luận văn có tính triết lý cao | Khó |
| Kinh Thi | Thơ ca dân gian và nhạc ca triều đình, tế lễ | Thơ, phần lớn bốn chữ một câu | Vừa, nhiều tên cây cỏ chim muông |
| Kinh Thư | Văn kiện, lời huấn, lời thề của các đời vua cổ | Văn chính luận cổ | Khó, chữ rất cổ |
| Kinh Lễ | Nghi lễ, chế độ, ý nghĩa của lễ | Văn ghi chép, luận giải | Vừa, nhiều thuật ngữ |
| Kinh Dịch | Sáu mươi tư quẻ, lời quẻ, lời hào và phần truyện giải thích | Ký hiệu kèm lời đoán giải ngắn | Khó nhất |
| Kinh Xuân Thu | Biên niên nước Lỗ, câu chữ cực ngắn | Biên niên, đọc kèm sách truyện | Khó nếu đọc riêng |
Điều đáng chú ý là “Kinh Lễ” trong cách nói thông thường ở Việt Nam thường chỉ Lễ ký, trong khi truyền thống Trung Hoa còn có Chu lễ và Nghi lễ. Khi mua sách, bạn nên xem bản đó là Lễ ký hay bộ nào khác, tránh tưởng mình đang đọc thiếu.
Chu Hi gợi ý đọc theo thứ tự nào?
Thứ tự Đại học, Luận ngữ, Mạnh Tử, Trung dung
Lời khuyên nổi tiếng của Chu Hi, được học trò ghi lại, là đọc Đại học trước để định quy mô, đọc Luận ngữ để lập gốc, đọc Mạnh Tử để thấy chỗ phát triển, sau cùng mới đọc Trung dung để tìm chỗ vi diệu của người xưa. Nguyên văn thường được trích: tiên độc Đại học, dĩ định kỳ quy mô; thứ độc Luận ngữ, dĩ lập kỳ căn bản; thứ độc Mạnh Tử, dĩ quan kỳ phát việt; thứ độc Trung dung, dĩ cầu cổ nhân chi vi diệu xứ.
Logic của thứ tự này là đi từ bản đồ tổng thể đến chi tiết. Đại học ngắn, cho một khung đầy đủ từ việc sửa mình đến việc yên thiên hạ; đặt khung ấy trong đầu rồi, đọc Luận ngữ và Mạnh Tử sẽ biết mỗi chương đang nói đến tầng nào.
Vì sao người đọc hôm nay hay đảo thứ tự
Chu Hi viết cho học trò đã thuộc nhiều chữ và có thầy giảng bên cạnh. Người tự học hôm nay thường chưa quen văn ngôn, nên Đại học với những chuỗi câu dài, nhiều hư từ dễ làm nản ngay buổi đầu. Luận ngữ thì khác: mỗi chương chỉ một hai câu, đọc xong một chương là xong một ý, cảm giác tiến bộ đến nhanh.
Vì vậy nhiều giáo viên Hán văn chọn cách đọc Luận ngữ trước để làm quen chữ và hư từ, rồi quay lại Đại học như một bản tổng kết, sau đó mới sang Mạnh Tử và Trung dung. Cả hai con đường đều hợp lý; điều cần giữ là Trung dung nên để sau, vì nó dùng lại hầu hết khái niệm của ba cuốn kia.
Lộ trình đọc thực tế cho người mới bắt đầu
Lộ trình dưới đây giả định bạn đọc mỗi ngày khoảng nửa giờ, có bản nguyên văn kèm phiên âm và chú thích.
- Luận ngữ, vài thiên đầu: Học nhi, Vi chính, Lý nhân. Mục tiêu là quen các hư từ như chi, hồ, giả, dã, và quen giọng hỏi đáp.
- Đại học: đọc trọn, chép tay đoạn ba cương lĩnh và tám điều mục, tự vẽ lại chuỗi lập luận.
- Luận ngữ phần còn lại: đọc theo thiên, mỗi thiên ghi lại năm chương thấy đắt nhất.
- Mạnh Tử: bắt đầu từ thiên Lương Huệ Vương và Công Tôn Sửu, nơi lập luận tính thiện và nhân chính rõ nhất.
- Trung dung: đọc chậm, đối chiếu chú giải, vì mật độ khái niệm rất dày.
- Kinh Thi: cuốn dễ vào nhất của Ngũ kinh, chọn phần Quốc phong trước.
- Lễ ký chọn thiên, Kinh Thư chọn thiên, Xuân Thu kèm Tả truyện: không cần đọc trọn ngay, chọn theo đề tài.
- Kinh Dịch: để sau cùng, đọc như văn bản triết học, chú trọng phần Thập dực.
Không cần đọc trọn Ngũ kinh mới được coi là “đọc kinh điển”. Ngay các nhà Nho xưa cũng thường chuyên một kinh khi đi thi, còn những kinh khác đọc ở mức hiểu đại ý.
Chọn bản sách thế nào để khỏi đọc nhầm?
Bản phải có nguyên văn chữ Hán. Bản chỉ có dịch nghĩa tiếng Việt là bản của người dịch, không phải của tác giả. Một chữ như nhân, lễ, đạo có thể được dịch theo năm sáu cách; không thấy chữ gốc thì bạn không biết người dịch đã chọn cách nào.
Có phiên âm Hán Việt và chú từng chữ khó. Phiên âm giúp đọc to, nhớ mặt chữ; chú từng chữ giúp tách nghĩa từ với nghĩa câu, tránh học thuộc câu dịch mà không hiểu cấu trúc.
Ghi rõ dựa theo chú giải nào. Bản tốt cho biết người dịch theo chú của Chu Hi, theo chú đời Hán hay tự giải. Hai nhà chú có thể hiểu một câu khác nhau, và đó là chuyện bình thường của văn bản cổ.
Có mục lục theo thiên, chương. Trích dẫn kinh điển theo tên thiên và số chương; bản không đánh số chương thì khi cần tra lại sẽ mất rất nhiều thời gian.
Một bản chính, một bản đối chiếu. Đọc chủ yếu một bản để không rối, nhưng giữ thêm một bản khác để so khi gặp câu khó hiểu. Chỗ hai bản dịch vênh nhau thường là chỗ đáng dừng lại nhất.
Những ngộ nhận hay gặp khi mới tiếp cận
Tưởng Khổng Tử tự tay viết Luận ngữ. Luận ngữ do học trò và học trò của học trò ghi chép, biên tập sau khi ông mất. Vì vậy trong sách có cả lời của Tăng Tử, Hữu Tử, Tử Cống.
Tưởng Tứ thư cổ hơn Ngũ kinh. Ngược lại. Tứ thư được gom thành bộ ở đời Tống; Ngũ kinh có trước rất lâu. Thứ tự “Tứ thư rồi Ngũ kinh” là thứ tự học, không phải thứ tự ra đời.
Coi kinh điển Nho học là sách tôn giáo. Ở đây, kinh là văn bản chuẩn, sách gốc của một truyền thống học thuật và đạo đức. Đọc chúng là đọc tư tưởng chính trị, luân lý, giáo dục và văn chương, không phải đọc giáo lý.
Đọc Kinh Dịch để đoán việc. Với người học cổ văn, Kinh Dịch là một văn bản có cấu trúc chặt và phần truyện giàu tư tưởng. Lấy nó làm sách đoán việc là bỏ qua đúng phần có giá trị học thuật nhất.
Học thuộc bản dịch thay cho nguyên văn. Thuộc một câu dịch hay không giúp bạn đọc được câu tương tự ở chỗ khác. Thuộc vài trăm câu nguyên văn kèm hiểu chữ mới là vốn dùng được lâu dài.
Tự kiểm sau ba tháng đọc
Sau khoảng ba tháng, bạn có thể dùng bảng này để biết mình đang ở đâu và nên chỉnh gì.
| Câu hỏi tự kiểm | Nếu trả lời được | Nếu chưa |
|---|---|---|
| Kể tên chín sách và mỗi sách một câu nội dung | Đã có bản đồ, tiếp tục đọc sâu | Đọc lại bảng ở trên, chép tay một lần |
| Đọc to một chương Luận ngữ không cần phiên âm | Chuyển sang Mạnh Tử | Ở lại Luận ngữ thêm vài thiên |
| Giải thích chi, hồ, giả, dã trong câu cụ thể | Đã nắm phần nền văn ngôn | Lập sổ hư từ, mỗi chữ năm câu ví dụ |
| Nói lại tám điều mục của Đại học theo đúng thứ tự | Đủ khung để đọc Trung dung | Vẽ lại chuỗi lập luận bằng tay |
| Chỉ ra một chỗ hai bản dịch hiểu khác nhau | Bắt đầu đọc như người nghiên cứu | Mua thêm một bản đối chiếu |
Câu hỏi thường gặp
Tứ thư gồm những sách nào?
Tứ thư gồm bốn sách: Đại học, Trung dung, Luận ngữ và Mạnh Tử. Đại học và Trung dung vốn là hai thiên trong Lễ ký, được Chu Hi tách ra và gộp với hai sách kia thành một bộ.
Ngũ kinh gồm những sách nào?
Ngũ kinh gồm Kinh Thi, Kinh Thư, Kinh Lễ, Kinh Dịch và Kinh Xuân Thu. Trước kia còn nhắc tới Kinh Nhạc, nhưng sách này không truyền lại nên chỉ còn năm kinh.
Người mới tự học nên đọc sách nào trước?
Luận ngữ là lựa chọn dễ vào nhất vì chương ngắn, giọng gần lời nói. Sau đó đọc Đại học để có khung tổng thể, rồi Mạnh Tử, Trung dung, và mới sang Ngũ kinh.
Có cần đọc hết Ngũ kinh không?
Không bắt buộc. Nhà Nho xưa cũng thường chuyên sâu một kinh, các kinh khác đọc ở mức hiểu đại ý. Người đọc hôm nay có thể chọn thiên theo đề tài mình quan tâm.
Đọc bản dịch tiếng Việt có đủ không?
Bản dịch giúp nắm ý, nhưng nên chọn bản có nguyên văn chữ Hán, phiên âm và chú thích. Không thấy chữ gốc thì không biết người dịch đã chọn cách hiểu nào cho những khái niệm như nhân, lễ, đạo.
Tứ thư có trước hay Ngũ kinh có trước?
Ngũ kinh có trước rất lâu. Tứ thư chỉ thành một bộ từ đời Tống. Thứ tự học Tứ thư trước, Ngũ kinh sau là thứ tự sư phạm, không phải thứ tự ra đời.