Để đọc một câu chữ Nôm, bạn đi theo năm bước: nhận thể thơ và ngắt nhịp, tách chữ Hán dùng nguyên khỏi chữ Nôm tự tạo, thử âm cho chữ tự tạo dựa vào phần biểu âm, đặt âm vào ngữ cảnh, rồi đối chiếu với bản phiên có sẵn.
Người mới thường cầm một trang Nôm và cố nhận từng chữ như đọc chữ quốc ngữ, rồi dừng lại ở chữ thứ ba vì không biết chữ ấy. Người đọc lâu năm làm khác: họ coi cả câu là một bài giải có nhiều manh mối cùng lúc — số chữ, vần, nhịp, nghĩa của những chữ Hán quen, phần gợi âm của chữ lạ. Một manh mối đứng riêng thì yếu, năm manh mối chụm lại thì câu tự hiện ra. Các bước dưới đây đi theo đúng thứ tự đó, và cuối bài có một câu Truyện Kiều được giải trọn từng chữ để bạn thấy các bước ráp vào nhau thế nào.
Bước một và hai: nhận thể thơ, đếm chữ, ngắt nhịp
Hai bước đầu không đòi hỏi biết một chữ nào. Chúng cho bạn khung của câu trước khi đụng tới từng chữ, và nhờ khung ấy mà sai ở chữ nào bạn cũng phát hiện sớm.
Đếm chữ trước khi đọc chữ
Phần lớn văn bản Nôm người mới gặp là văn vần: lục bát, song thất lục bát, thơ Đường luật viết bằng tiếng Việt. Câu sáu chữ nối câu tám chữ là lục bát; hai câu bảy chữ rồi một cặp sáu – tám là song thất lục bát; tám câu bảy chữ đều nhau thường là thơ Đường luật. Chỉ cần đếm, bạn đã biết chữ cuối câu sáu phải vần với chữ thứ sáu câu tám, và vần là một manh mối âm rất mạnh khi gặp chữ lạ ở đúng vị trí ấy.
Ngắt nhịp để biết chữ nào đi với chữ nào
Lục bát thường ngắt nhịp chẵn: hai – hai – hai, hoặc bốn – bốn ở câu tám. Ngắt nhịp giúp bạn đoán từ ghép: hai chữ đứng chung một nhịp thường là một từ hai tiếng, có khi là từ Hán Việt (tài mệnh, phong trần), có khi là từ thuần Việt (khéo là, cõi người). Khi văn bản là văn xuôi Nôm như văn tế, truyện, giấy tờ làng thì không có nhịp thơ, bạn chuyển sang tìm các chữ hư quen thuộc như chưng, thì, mà, rằng để chia vế câu.
Bước ba: tách chữ Hán dùng nguyên khỏi chữ Nôm tự tạo
Một câu Nôm là hỗn hợp nhiều loại chữ. Việc đầu tiên khi nhìn vào từng chữ là xếp nó vào đúng nhóm, vì mỗi nhóm có cách đọc khác nhau. Bảng sau là cách xếp thực dụng mà người dạy Hán Nôm hay dùng với học viên mới.
| Nhóm chữ | Nhận ra bằng cách nào | Đọc ra sao | Ví dụ |
|---|---|---|---|
| Chữ Hán dùng nguyên, đọc Hán Việt, giữ nghĩa | Là chữ Hán bạn tra được trong từ điển Hán Việt, nghĩa khớp câu | Đọc đúng âm Hán Việt | 才 tài, 命 mệnh |
| Chữ Hán mượn âm, bỏ nghĩa | Là chữ Hán quen nhưng nghĩa Hán không khớp câu | Đọc âm Việt gần với âm Hán Việt | 固 có, 吏 lại, 埃 ai |
| Chữ Hán đọc theo âm cổ | Là chữ Hán, nghĩa khớp, nhưng âm Hán Việt nghe lạ trong câu | Đọc âm Việt cổ tương ứng | 役 việc, 味 mùi |
| Chữ Nôm tự tạo | Không có trong từ điển chữ Hán thông thường, thường ghép hai thành phần | Đoán từ phần biểu âm, kiểm bằng phần biểu nghĩa | 𡨸 chữ, 𠊛 người |
Bạn chưa cần đọc được chữ nào ở bước này, chỉ cần đánh dấu bằng bút chì: chữ nào là chữ Hán quen, chữ nào lạ hẳn. Thường một câu lục bát có vài chữ Hán dùng nguyên, vài chữ mượn âm và hai ba chữ tự tạo. Biết tỷ lệ ấy giúp bạn không sa đà tra từ điển chữ Hán cho một chữ vốn do người Việt tự ghép.
Bước bốn: thử âm cho chữ tự tạo dựa vào phần biểu âm
Chữ Nôm tự tạo phần lớn theo lối hình thanh: một thành phần gợi nghĩa, một thành phần gợi âm. Bạn tách chữ làm hai, tìm thành phần nào là một chữ Hán có âm đọc được, rồi đọc âm ấy và biến đổi nhẹ cho thành một tiếng Việt có nghĩa. Ví dụ 𠊛 gồm bộ nhân đứng 亻 gợi nghĩa con người và chữ 㝵 đọc là ngại gợi âm; từ ngại chuyển sang người là một bước nhỏ, lại khớp với nghĩa.
Âm gợi ý hiếm khi trùng khít. Thường phụ âm đầu giữ gần nguyên, vần thay đổi ít, còn thanh điệu có thể lệch. Vì thế đừng đòi một âm chính xác ngay; hãy liệt kê hai ba khả năng gần nhau rồi để ngữ cảnh chọn. Cũng có chữ mà cả hai thành phần đều gợi âm, hoặc cả hai đều gợi nghĩa như 𡗶 trời ghép từ 天 thiên và 上 thượng — trời là cái ở trên. Gặp chữ hội ý kiểu này, phần biểu âm không giúp được, bạn dựa vào nghĩa của hai thành phần.
Một mẹo nhỏ: viết lại chữ lạ thật to ra giấy nháp, khoanh riêng từng thành phần. Mắt người mới thường nhìn chữ Nôm như một khối đen; khi đã tách được, nhiều chữ tưởng lạ hóa ra chỉ là một chữ Hán quen đứng cạnh một bộ thủ quen.
Bước năm: đặt âm vào ngữ cảnh rồi đối chiếu bản phiên
Khi mọi chữ trong câu đã có âm tạm, bạn đọc to cả câu lên. Tiếng Việt của người xưa vẫn là tiếng Việt: câu đọc ra phải có nghĩa, đúng ngữ pháp, đúng vần và đúng luật bằng trắc của thể thơ. Chỗ nào nghe gượng, gần như chắc chắn có một chữ đọc sai, thường là chữ mượn âm mà bạn lỡ đọc theo nghĩa Hán, hoặc chữ tự tạo mà bạn chọn nhầm khả năng âm.
Bước cuối là đối chiếu với một bản phiên âm đáng tin. Thứ tự này rất quan trọng: tự đọc trước, đối chiếu sau. Nếu mở bản phiên ngay từ đầu, bạn sẽ chỉ nhìn chữ để xác nhận âm đã biết, và sau vài tháng vẫn không tự đọc được câu nào lạ. Khi thấy mình đọc khác bản phiên, hãy ghi lại chỗ khác và lý do; nhiều khi chính các bản phiên cũng khác nhau ở những chữ có hai cách đọc, và đó là bài học văn bản học quý hơn bất cứ quy tắc nào.
Thử trọn một câu: “Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau”
Câu thứ hai của Truyện Kiều là bài tập kinh điển vì nó có đủ các nhóm chữ trong một dòng tám chữ. Dưới đây là cách giải từng chữ theo năm bước đã nêu.
| Chữ | Nhóm | Lý do đọc như vậy |
|---|---|---|
| 𡨸 | Tự tạo, hình thanh | Ghép 字 tự (nghĩa là chữ) với 宁 trữ gợi âm; trữ chuyển thành chữ |
| 才 | Hán dùng nguyên | Tài, nghĩa là tài năng, khớp ngay |
| 𡨸 | Tự tạo, hình thanh | Lặp lại chữ đầu câu, tạo cặp đối chữ tài – chữ mệnh |
| 命 | Hán dùng nguyên | Mệnh, nghĩa là số mệnh |
| 窖 | Hán mượn âm | Nghĩa Hán là hầm chứa, không khớp; mượn âm để ghi khéo |
| 羅 | Hán mượn âm | La mượn ghi là, một hư từ rất thường gặp |
| 恄 | Hình thanh có bộ tâm | Bộ tâm 忄 gợi tình cảm, 吉 cát gợi âm, đọc là ghét |
| 饒 | Hán mượn âm | Nhiêu mượn ghi nhau |
Đếm lại: tám chữ, đúng câu bát. Chữ thứ sáu là 羅 là, phải vần với chữ cuối câu sáu đứng trước là ta trong “Trăm năm trong cõi người ta” — ta và là cùng vần a, khớp. Nhịp bốn – bốn: chữ tài chữ mệnh / khéo là ghét nhau. Nghĩa thông, vần đúng, nhịp đúng: câu đã được đọc. Lúc này bạn mới mở bản phiên để kiểm, và nếu khớp thì ghi ba chữ mượn âm 窖, 羅, 饒 cùng chữ 恄 vào sổ tay, vì chúng sẽ quay lại hàng trăm lần trong các văn bản khác.
Những lỗi người mới hay mắc khi đọc câu Nôm
Đọc chữ mượn âm theo nghĩa Hán. Thấy 固 liền nghĩ tới chắc chắn, kiên cố, trong khi câu chỉ cần chữ có. Hư từ tiếng Việt như có, là, mà, rằng, chẳng, còn gần như luôn được ghi bằng chữ Hán mượn âm.
Tra chữ Nôm tự tạo trong từ điển chữ Hán. Từ điển Hán Việt thông thường không có 𠊛 hay 𡨸. Mất nửa giờ lật từ điển sai loại là lỗi phổ biến nhất của tuần đầu.
Đòi âm gợi ý phải trùng khít. Phần biểu âm chỉ gợi gần. Ngại thành người, trữ thành chữ — chấp nhận độ lệch ấy thì mới đọc được.
Mở bản phiên quá sớm. Đối chiếu là bước cuối. Đọc bản phiên trước rồi nhìn chữ thì chỉ luyện được trí nhớ, không luyện được kỹ năng đọc.
Bỏ qua vần và luật bằng trắc. Trong văn vần, vị trí gieo vần là nơi kiểm tra âm chính xác nhất. Một chữ đọc sai thường làm câu lệch vần ngay.
Học thuộc danh sách chữ rời. Chữ Nôm nhớ lâu nhất khi gắn với câu cụ thể. Chép cả câu chứa chữ mới vào sổ, thay vì chép chữ đứng một mình.
Việc làm ngay trong tuần đầu tập đọc
Không cần giáo trình dày. Một quyển sổ, bút chì, một bản Truyện Kiều có chữ Nôm in song song với chữ quốc ngữ và mười lăm phút mỗi ngày là đủ để bắt đầu.
- Che phần quốc ngữ, đọc mỗi ngày bốn câu Nôm theo đủ năm bước, rồi mới mở phần quốc ngữ để kiểm.
- Lập sổ ba cột: chữ, nhóm chữ, câu chứa chữ đó. Sau một tuần bạn sẽ có khoảng ba mươi chữ, phần lớn là hư từ mượn âm.
- Mỗi chữ tự tạo gặp được, khoanh riêng phần biểu nghĩa và phần biểu âm bằng hai màu bút khác nhau.
- Đánh dấu những chữ bạn đọc khác bản phiên, để dành hỏi người đọc lâu năm hoặc tra từ điển chữ Nôm.
- Cuối tuần, đọc lại cả mười sáu câu đã làm mà không nhìn quốc ngữ; câu nào vấp thì làm lại từ bước một.
Sau khoảng một tháng làm đều, bạn sẽ thấy các hư từ mượn âm quay lại liên tục và tốc độ tăng rõ. Lúc đó mới là lúc chuyển sang văn bản không có phần quốc ngữ đi kèm.
Câu hỏi thường gặp
Chưa biết chữ Hán có đọc được câu chữ Nôm không?
Đọc được ở mức chậm. Bạn sẽ phải tra nhiều hơn, nhất là chữ Hán dùng nguyên và phần biểu âm của chữ tự tạo. Học song song khoảng hai ba trăm chữ Hán thông dụng giúp tốc độ đọc Nôm tăng rõ rệt.
Một câu lục bát chữ Nôm thường có bao nhiêu chữ tự tạo?
Không có tỷ lệ cố định, tùy văn bản và người chép. Thường mỗi câu có vài chữ tự tạo xen với chữ Hán dùng nguyên và chữ Hán mượn âm, nên bạn luôn có chữ quen làm điểm tựa.
Vì sao nên tự đọc trước rồi mới xem bản phiên âm?
Vì kỹ năng đọc Nôm là kỹ năng giải đoán từ manh mối. Xem bản phiên trước thì não chỉ xác nhận âm đã biết, không luyện phần đoán âm từ thành phần chữ và ngữ cảnh.
Văn xuôi Nôm có đọc theo năm bước này được không?
Được, trừ phần vần và nhịp thơ. Với văn xuôi, bạn dựa vào các hư từ như thì, mà, rằng, chưng để chia vế câu, rồi áp dụng các bước tách nhóm chữ và thử âm như bình thường.
Gặp chữ không đoán được âm thì làm gì?
Đánh dấu và đọc tiếp cả câu, vì ngữ cảnh thường thu hẹp khả năng. Nếu vẫn bí, tra từ điển chữ Nôm theo bộ thủ của phần biểu nghĩa hoặc nhờ người đọc lâu năm xem giúp.