Chữ Hán mượn âm là chữ Hán có sẵn được người Việt lấy để ghi một tiếng Việt gần âm, bỏ hẳn nghĩa gốc. Người đã biết chữ Hán dễ vấp nhất ở loại này, vì thói quen thấy chữ là nghĩ ra nghĩa Hán, trong khi câu Nôm chỉ cần âm.
Nghe thì lạ, nhưng nhiều người học Hán văn vài năm lại đọc văn Nôm chậm hơn người mới học vài tháng ở đúng những đoạn đơn giản nhất. Nguyên do không nằm ở chữ khó mà ở chữ dễ: những hư từ tiếng Việt như có, lại, một, ai, còn, chẳng, rằng được ghi bằng các chữ Hán rất thông dụng. Người biết chữ Hán nhìn thấy 固 là nghĩ tới kiên cố, nhìn 沒 là nghĩ tới mai một, và câu văn bỗng trở nên kỳ quặc. Bài này giúp bạn tắt phản xạ đó đúng lúc.
Vì sao người Việt mượn chữ Hán chỉ để lấy âm?
Tiếng Việt có một lớp từ rất lớn không có chữ Hán tương ứng: hư từ, đại từ, từ chỉ trạng thái, từ láy. Khi muốn ghi những tiếng ấy, cách nhanh nhất là chọn một chữ Hán đã quen tay, đọc gần với tiếng cần ghi, rồi dùng luôn. Không phải tạo chữ mới, người đọc lại quen mặt chữ. Cái giá là nghĩa Hán của chữ bị bỏ đi, và người đọc phải tự biết lúc nào chữ đang được dùng theo âm.
Lối mượn âm này có từ rất sớm, trước cả khi chữ Nôm tự tạo phát triển mạnh. Về sau, nhiều chữ mượn âm được thêm bộ thủ để thành chữ hình thanh, nhưng một số chữ, nhất là hư từ, vẫn giữ nguyên dạng mượn âm suốt nhiều thế kỷ vì đã quá quen.
Danh sách chữ mượn âm nên thuộc trước tiên
Các chữ sau gặp ở hầu như mọi văn bản Nôm, từ truyện thơ tới văn tế, giấy tờ làng. Học thuộc chúng là cách rút ngắn thời gian đọc nhanh nhất.
| Chữ | Âm Hán Việt | Đọc trong văn Nôm | Nghĩa Hán dễ gây nhầm |
|---|---|---|---|
| 固 | cố | có | bền, chắc |
| 吏 | lại | lại | viên chức nhỏ |
| 沒 | một | một | chìm, mất |
| 埃 | ai | ai | bụi |
| 群 | quần | còn | bầy, đám |
| 朱 | chu | cho | màu đỏ son |
| 浪 | lãng | rằng | sóng |
| 拯 | chửng | chẳng | cứu vớt |
| 買 | mãi | mới | mua |
| 羅 | la | là | lưới, bày ra |
| 些 | ta | ta | chút ít |
| 饒 | nhiêu | nhau | dư dật |
Có hai điều nên ghi nhớ. Thứ nhất, 吏 lại và 沒 một đọc giống hệt âm Hán Việt, chỉ khác nghĩa; đó là kiểu mượn âm nguyên vẹn. Thứ hai, 固 có, 群 còn, 買 mới, 饒 nhau thì âm Việt lệch khỏi âm Hán Việt một chút; đó là kiểu mượn âm gần đúng. Cả hai kiểu đều phổ biến, và đôi khi một chữ còn đọc được vài âm Việt gần nhau tùy câu.
Ba dấu hiệu cho biết chữ đang được dùng theo âm
Không có quy tắc tuyệt đối, nhưng ba dấu hiệu sau giúp bạn nghi ngờ đúng chỗ.
Nghĩa Hán làm câu trở nên vô lý
Đây là dấu hiệu mạnh nhất. Câu “Trăm năm trong cõi người ta” mà đọc 些 theo nghĩa chút ít thì câu vô nghĩa; đọc theo âm ta thì thông. Khi thấy mình phải bẻ cong câu văn để chứa nghĩa Hán, hãy dừng lại và thử âm.
Chữ đứng ở vị trí của hư từ
Giữa hai vế câu, đầu câu hỏi, trước động từ, sau chủ ngữ — những vị trí này tiếng Việt thường dùng hư từ như thì, mà, có, chẳng, đã, còn. Một chữ Hán thông dụng đứng ở đây nhiều khả năng đang mượn âm.
Có dấu báo đọc theo âm Nôm
Một số văn bản thêm bộ khẩu 口 bên trái chữ Hán để báo đọc theo âm Việt, như 呐 nói, 㗂 tiếng; có bản chép lại đánh một dấu nháy nhỏ ở góc trên bên phải chữ. Không phải văn bản nào cũng dùng các dấu này, và cách dùng không thống nhất, nhưng khi có thì đó là lời nhắn rõ ràng của người chép: đừng đọc theo nghĩa Hán.
Bẫy ngược: chữ Hán quen mà phải đọc Hán Việt giữ nghĩa
Khi đã quen thói nghi ngờ, người học lại rơi vào chiều ngược: thấy chữ Hán nào cũng thử đọc theo âm Việt. Đó cũng là sai.
Từ Hán Việt trong câu Nôm vẫn đọc Hán Việt. Chữ tài, chữ mệnh, phong trần, thiền quyên — các từ Hán Việt này được ghi bằng chữ Hán và đọc đúng âm Hán Việt, giữ nghĩa. Tắt phản xạ dịch nghĩa không có nghĩa là bỏ hẳn nghĩa Hán.
Có chữ vừa mượn âm vừa giữ một phần nghĩa. Một số chữ được chọn vì vừa gần âm vừa gần nghĩa. Gặp trường hợp này, cả hai cách hiểu đều ra cùng một tiếng, bạn không cần phân vân.
Đoạn trích nguyên văn Hán trong văn Nôm. Văn tế, văn bia, truyện thơ hay trích nguyên câu Hán văn, nhất là thành ngữ và điển cố. Ở những đoạn ấy, bạn phải chuyển hẳn sang đọc Hán văn, không đọc Nôm.
Chữ mượn âm trong tên người, tên đất ở giấy tờ làng
Ngoài văn chương, chữ mượn âm dày đặc nhất ở giấy tờ làng xã: sổ đinh, văn khế, địa bạ, danh sách người cúng tiến ghi trên bia. Tên tục của người, tên nôm của xóm, của cánh đồng, của gò bãi thường là tiếng Việt thuần, không có chữ Hán tương ứng, nên người chép ghi bằng chữ Hán gần âm. Người đọc theo nghĩa Hán ở đây sẽ dịch ra những cái tên kỳ lạ, trong khi đó chỉ là tên một xứ đồng mà người làng vẫn gọi hằng ngày.
Cách xử lý của người làm văn bản học là phiên theo âm, đặt tên trong ngoặc hoặc in nghiêng, và nếu có điều kiện thì hỏi người cao tuổi trong làng xem địa danh ấy còn được gọi thế nào. Âm sống trong miệng người làng thường là bằng chứng tốt nhất để chọn giữa hai ba khả năng đọc. Một nguyên tắc nên giữ: đừng tự Hán Việt hóa tên nôm cho trang trọng, vì làm vậy là xóa mất chính dấu vết tiếng Việt mà văn bản muốn lưu lại.
Một tình huống thường gặp ở lớp Hán Nôm
Một học viên đã đọc được Luận ngữ có chú giải, tới lớp chữ Nôm với tâm thế phần này dễ. Buổi đầu được giao bốn câu lục bát, học viên dịch ra một đoạn văn xuôi rất trau chuốt nhưng sai gần hết, vì đã hiểu 固 là vững bền, 群 là bầy đàn, 拯 là cứu vớt. Người dạy không sửa từng chữ mà yêu cầu đọc to bốn câu theo âm đã đoán. Câu nào đọc to lên mà không giống tiếng Việt người thường nói, câu đó có chữ cần đổi cách đọc.
Bài học rút ra là văn Nôm phải được nghe bằng tai, không chỉ nhìn bằng mắt. Chữ Hán là văn tự của mắt, người đọc có thể hiểu mà không cần phát âm. Chữ Nôm thì gắn với tiếng nói; nếu không đọc thành tiếng, bạn bỏ lỡ manh mối quan trọng nhất là câu có nghe ra tiếng Việt hay không.
Luyện tắt phản xạ dịch nghĩa trong hai tuần
Những việc dưới đây dành riêng cho người đã có nền chữ Hán.
- Mỗi ngày đọc thành tiếng sáu câu Nôm, không viết dịch nghĩa ra giấy.
- Dán danh sách mười hai chữ mượn âm ở trên cạnh bàn, đọc lướt trước mỗi buổi.
- Khi gặp chữ Hán quen, tự hỏi một câu: ở đây cần âm hay cần nghĩa?
- Ghi riêng những chữ bạn đã đọc nhầm theo nghĩa Hán; sau hai tuần, danh sách này thường chỉ còn vài chữ cứng đầu.
- Đọc xen một đoạn Hán văn và một đoạn Nôm trong cùng buổi để tập chuyển chế độ đọc.
Phần lớn người có nền Hán văn vượt qua giai đoạn này nhanh. Khi đã qua, nền chữ Hán trở thành lợi thế lớn: bạn đọc phần gợi âm của chữ hình thanh và các từ Hán Việt trong văn Nôm nhanh hơn hẳn người chưa biết chữ Hán.
Câu hỏi thường gặp
Chữ Hán mượn âm trong chữ Nôm còn gọi là gì?
Sách nghiên cứu hay gọi là chữ giả tá hoặc chữ mượn âm Hán Việt. Một số tài liệu chia nhỏ thành mượn âm đọc nguyên và mượn âm đọc chệch, tùy âm Việt trùng hẳn hay chỉ gần với âm Hán Việt.
Làm sao biết một chữ Hán trong văn Nôm đang được dùng theo âm hay theo nghĩa?
Thử cả hai rồi để câu quyết định. Nếu nghĩa Hán làm câu vô lý còn âm Việt làm câu thông, chữ đang mượn âm. Vị trí hư từ và dấu báo đọc Nôm, nếu có, là manh mối thêm.
Biết chữ Hán có lợi hay có hại khi học chữ Nôm?
Có lợi nhiều hơn, chỉ cần vượt qua giai đoạn đầu quen dịch nghĩa. Nền chữ Hán giúp đọc phần gợi âm, từ Hán Việt và các đoạn trích Hán văn trong văn Nôm nhanh hơn hẳn.
Có nên học thuộc danh sách chữ mượn âm không?
Nên thuộc khoảng vài chục chữ hư từ thông dụng nhất, vì chúng xuất hiện ở hầu như mọi câu. Phần còn lại học dần qua văn bản, gắn với câu cụ thể sẽ nhớ lâu hơn.
Vì sao cùng một chữ Hán lại có thể đọc nhiều âm Nôm khác nhau?
Vì mượn âm là mượn gần đúng, một chữ có thể ghi vài tiếng Việt có âm gần nhau. Ví dụ một chữ có thể đọc chẳng hoặc chăng tùy câu, nên ngữ cảnh luôn là trọng tài cuối cùng.