役 đọc là việc vì trong văn Nôm, nhiều chữ Hán được ghi theo lớp âm Hán vào tiếng Việt từ rất sớm, trước khi cách đọc Hán Việt quen thuộc định hình. Chữ vẫn giữ nghĩa, chỉ âm là âm cổ đã Việt hóa: 役 việc, 味 mùi, 符 bùa, 鏡 gương.
Đây là nhóm chữ khiến người mới bối rối nhất, vì nó không thuộc hẳn loại nào quen thuộc. Không phải chữ tự tạo, vì nó là chữ Hán thật. Không phải mượn âm bỏ nghĩa, vì nghĩa vẫn giữ. Cũng không đọc âm Hán Việt như các từ tài, mệnh. Nắm được nhóm này, bạn hiểu thêm một điều về tiếng Việt: nhiều từ ta tưởng thuần Việt thật ra có gốc Hán, chỉ là vào tiếng Việt từ quá lâu nên đã đổi hẳn âm.
Lớp âm Hán Việt cổ là gì?
Tiếng Việt tiếp xúc với tiếng Hán qua nhiều thời kỳ dài. Cách đọc chữ Hán mà ta gọi là âm Hán Việt, như dịch, vị, phù, kính, là một hệ thống tương đối ổn định, được các nhà nghiên cứu cho là hình thành trên cơ sở tiếng Hán khoảng thời Đường. Nhưng trước đó, nhiều từ Hán đã đi vào tiếng nói hằng ngày của người Việt và theo thời gian biến đổi theo quy luật ngữ âm của tiếng Việt. Lớp từ này thường được gọi là Hán Việt cổ hoặc tiền Hán Việt; một số từ khác vào theo con đường dân gian về sau và bị Việt hóa mạnh.
Khi người xưa viết chữ Nôm để ghi những từ như việc, mùi, bùa, gương, họ chọn đúng chữ Hán gốc của từ ấy. Với họ, đó là lựa chọn tự nhiên: chữ có nghĩa đúng, âm lại có liên hệ. Với người đọc hôm nay, đó là chữ Hán quen nhưng phải đọc khác. Ai muốn hiểu sâu về các lớp âm này có thể tìm đọc các công trình ngữ âm lịch sử, chẳng hạn sách của Nguyễn Tài Cẩn về nguồn gốc và quá trình hình thành cách đọc Hán Việt.
Những cặp âm hay gặp trong văn bản Nôm
Bảng dưới gồm các chữ thường được dùng trong văn Nôm để ghi từ Hán Việt cổ, kèm âm Hán Việt quen thuộc để so. Cột cuối gợi ý quy luật biến đổi mà bạn có thể nhận ra khi đặt nhiều cặp cạnh nhau.
| Chữ | Âm Hán Việt | Đọc trong văn Nôm | Điều đáng để ý |
|---|---|---|---|
| 役 | dịch | việc | Phụ âm đầu đổi, nghĩa công việc giữ nguyên |
| 味 | vị | mùi | Cặp v và m, gặp ở nhiều từ gốc Hán vào sớm |
| 務 | vụ | mùa | Cũng là cặp v và m, nghĩa thời vụ |
| 舞 | vũ | múa | Cặp v và m thêm một lần nữa |
| 符 | phù | bùa | Cặp ph và b |
| 帆 | phàm | buồm | Cặp ph và b, nghĩa cánh buồm |
| 房 | phòng | buồng | Cặp ph và b, nghĩa gian phòng |
| 鏡 | kính | gương | Cặp k và g, nghĩa tấm gương |
| 本 | bản | vốn | Nghĩa gốc, vốn liếng |
| 茶 | trà | chè | Hai tiếng cùng tồn tại trong tiếng Việt hôm nay |
| 墨 | mặc | mực | Vần đổi, nghĩa mực viết |
Các cặp v và m, ph và b lặp lại nhiều lần không phải ngẫu nhiên: chúng phản ánh việc âm Hán ở thời kỳ vào tiếng Việt khác với âm Hán đời sau làm cơ sở cho âm Hán Việt. Bạn không cần đi sâu vào ngữ âm học để đọc văn Nôm, nhưng biết các cặp này giúp bạn đoán nhanh khi gặp một chữ Hán quen mà âm Hán Việt không vừa câu.
Nhận ra chữ đọc âm cổ trong một câu thế nào?
Ba câu hỏi sau, hỏi đúng thứ tự, giải được phần lớn trường hợp.
Nghĩa đúng mà âm Hán Việt nghe lạ
Bạn đọc một câu Nôm, thấy chữ 役 và nghĩa công việc khớp hoàn toàn, nhưng đọc dịch thì câu nghe như văn dịch vụng. Đó là tín hiệu: thử âm việc. Nhóm chữ này khác chữ mượn âm ở chỗ nghĩa Hán không bị bỏ mà là chìa khóa để tìm âm.
Tìm từ thuần Việt có nghĩa giống hệt
Hỏi: tiếng Việt thường ngày nói nghĩa này bằng từ nào? Mùi cho vị, gương cho kính, buồm cho phàm. Nếu từ thường ngày ấy có âm gần với âm Hán Việt theo các cặp ở bảng trên, khả năng cao đó là cách đọc đúng.
Kiểm bằng vần và thanh trong văn vần
Như mọi chữ khác, vị trí gieo vần trong lục bát là nơi kiểm tra tốt nhất. Đọc vị mà lệch vần, đọc mùi mà đúng vần, thì bạn biết phải chọn âm nào.
Một chữ, hai cách đọc trong cùng một văn bản
Điều làm nhóm chữ này khó là cùng một chữ có thể đọc âm Hán Việt ở câu này và âm cổ ở câu khác. 茶 trong một câu tả cảnh thưởng trà của bậc văn nhân có thể đọc trà; trong câu nói chuyện hái chè ngoài vườn thì đọc chè. 鏡 trong từ ghép Hán Việt như minh kính đọc kính, còn khi đứng một mình chỉ cái gương soi thì đọc gương.
Người phiên âm cẩn thận ghi chú những chỗ như vậy. Khi bạn tự phiên một văn bản, hãy làm như họ: nếu chọn âm cổ, ghi một dòng lý do; nếu phân vân, ghi cả hai khả năng. Những ghi chú này về sau giúp người khác kiểm lại, và giúp chính bạn nhất quán khi chữ ấy xuất hiện lần nữa.
Cũng cần tránh suy diễn quá đà. Không phải từ thuần Việt nào nghe hơi giống một chữ Hán cũng là Hán Việt cổ. Các nhà ngữ âm học xác lập những cặp này bằng quy luật biến đổi lặp lại trên nhiều từ, không bằng một lần giống âm. Khi đọc văn Nôm, bạn chỉ cần dùng những cặp đã được thừa nhận rộng rãi như trong bảng, và tra từ điển chữ Nôm khi gặp chữ lạ.
Vì sao nhóm chữ này quan trọng với người học tiếng Việt?
Ngoài việc đọc đúng văn Nôm, nhóm chữ âm cổ còn là cửa sổ nhìn vào lịch sử tiếng Việt. Văn bản Nôm cho thấy người xưa ý thức rõ mối liên hệ giữa việc và 役, giữa gương và 鏡, nghĩa là họ biết những từ ấy có gốc Hán dù đọc theo kiểu Việt. Với giáo viên ngữ văn, những cặp này là ví dụ sống động khi giảng về nguồn gốc từ vựng, sinh động hơn mọi định nghĩa khô khan về từ mượn.
Lỗi hay gặp khi phiên âm nhóm chữ này
Phiên đều tay theo âm Hán Việt. Bản phiên đọc lên thành một thứ văn nửa Hán nửa Việt, câu thơ mất vần. Đây là lỗi của người mới tự phiên, và cũng gặp ở một số bản phiên làm vội.
Đổi hết sang âm cổ cho có vẻ Việt. Lỗi ngược lại: biến cả từ Hán Việt đích thực thành âm cổ. Từ ghép Hán Việt trong văn chương bác học vẫn đọc Hán Việt.
Không ghi chú khi phân vân. Một bản phiên không có chú thích làm người sau tưởng mọi chữ đều chắc chắn như nhau, trong khi thật ra có chỗ người phiên đã phải chọn.
Dựa vào âm giống để tự lập cặp mới. Thấy hai âm na ná rồi kết luận gốc Hán là cách dễ sai nhất. Cặp âm cổ phải được nghiên cứu xác lập, không phải đoán.
Cách ghi sổ để nhớ nhóm chữ âm cổ
Nhóm này không lớn bằng nhóm mượn âm, nên ghi sổ riêng sẽ hiệu quả hơn ghi lẫn.
- Mở một trang riêng tên âm Hán Việt cổ, chia bốn cột: chữ, âm Hán Việt, âm đọc trong văn Nôm, câu ví dụ.
- Mỗi lần gặp chữ đọc âm cổ, chép nguyên câu chứa nó, gạch dưới chữ đó.
- Nhóm các dòng theo cặp phụ âm: v và m, ph và b, k và g, để quy luật tự hiện ra.
- Khi gặp chữ cùng nhóm mà đọc âm Hán Việt, chép cả câu đó vào dòng kế bên để thấy sự tương phản.
Sau vài chục dòng, bạn sẽ đọc nhóm này gần như theo phản xạ, và có thêm một lợi ích phụ: nhìn tiếng Việt hằng ngày với con mắt khác, thấy rõ những lớp từ đã chồng lên nhau qua hàng nghìn năm.
Câu hỏi thường gặp
Âm Hán Việt cổ khác âm Hán Việt thông thường thế nào?
Âm Hán Việt thông thường là hệ thống đọc chữ Hán tương đối ổn định. Âm Hán Việt cổ là âm của các từ Hán vào tiếng Việt sớm hơn, đã biến đổi theo ngữ âm tiếng Việt nên nghe như từ thuần Việt.
Từ việc, mùi, gương có phải từ thuần Việt không?
Nhiều nhà nghiên cứu xếp chúng vào lớp từ gốc Hán vào tiếng Việt từ sớm, gọi là Hán Việt cổ. Với người nói hôm nay, chúng được cảm nhận như từ thuần Việt vì đã Việt hóa hoàn toàn.
Vì sao người viết chữ Nôm dùng chữ Hán gốc thay vì tự tạo chữ mới?
Vì chữ Hán gốc vừa đúng nghĩa vừa có liên hệ về âm, lại quen tay người viết. Tự tạo chữ mới chỉ cần khi không có chữ Hán nào phù hợp cả âm lẫn nghĩa.
Khi phiên âm văn Nôm, gặp chữ có thể đọc cả âm cổ và âm Hán Việt thì chọn thế nào?
Chọn theo ngữ cảnh, vần và việc chữ đứng riêng hay trong từ ghép Hán Việt. Nếu vẫn phân vân, ghi cả hai khả năng trong chú thích để người đọc sau tự cân nhắc.
Muốn tìm hiểu kỹ về lớp âm Hán Việt cổ thì đọc tài liệu gì?
Nên tìm các công trình ngữ âm lịch sử tiếng Việt và từ vựng học về từ Hán Việt, trong đó có sách của Nguyễn Tài Cẩn về nguồn gốc cách đọc Hán Việt, cùng các bài nghiên cứu về từ Hán Việt cổ.