Nếu mục tiêu là đọc văn cổ Việt Nam, hãy học bằng âm Hán Việt. Người Việt xưa đọc chữ Hán bằng âm này, câu đối và thơ của họ tính bằng trắc theo âm này, và vốn từ Hán Việt sẵn có giúp bạn đoán nghĩa nhanh. Pinyin chỉ cần ở mức tra cứu.
Câu hỏi này hay đến từ những người đã học tiếng Trung giao tiếp, hoặc đang phân vân nên mở giáo trình tiếng Trung hay giáo trình Hán Nôm. Hai con đường dùng chung một hệ chữ nhưng đi về hai đích khác nhau: một bên là ngôn ngữ đang nói hôm nay, một bên là văn ngôn và di sản chữ nghĩa của người Việt.
Âm Hán Việt là gì, pinyin là gì?
Âm Hán Việt là cách người Việt đọc chữ Hán, hình thành qua quá trình tiếp xúc lâu dài và ổn định thành một hệ thống có quy luật. Mỗi chữ Hán có một hoặc vài âm Hán Việt, như 國 quốc, 家 gia, 學 học. Đây là âm mà các nhà Nho Việt dùng khi đọc sách, ngâm thơ, đọc văn tế, và cũng là nguồn của hàng nghìn từ Hán Việt trong tiếng Việt hôm nay.
Pinyin là hệ phiên âm bằng chữ cái Latinh cho tiếng Phổ thông Trung Quốc, được Trung Quốc chính thức áp dụng từ cuối những năm 1950. Pinyin ghi âm của tiếng Trung hiện đại, với bốn thanh điệu và một thanh nhẹ. Nó rất cần cho người học nói tiếng Trung, nhưng nó không phải âm mà người Việt xưa dùng để đọc văn bản của mình.
So sánh hai cách học theo mục tiêu đọc văn cổ
Bảng dưới đây đặt hai cách cạnh nhau theo những tiêu chí quan trọng với người đọc văn bản Hán Nôm:
| Tiêu chí | Âm Hán Việt | Pinyin |
|---|---|---|
| Đọc văn bia, gia phả, câu đối Việt Nam | đúng âm người xưa dùng | phải chuyển sang âm Hán Việt mới hợp văn cảnh Việt |
| Xét bằng trắc, niêm luật thơ của người Việt | dùng trực tiếp | không dùng được, thanh điệu khác hệ |
| Đoán nghĩa nhờ vốn từ sẵn có | rất mạnh: quốc gia, giáo dục, văn hoá đều là từ đã biết | yếu nếu chưa học tiếng Trung |
| Tra từ điển, tài liệu tiếng Trung | cần thêm bước | thuận tiện |
| Gõ chữ Hán trên máy tính | có bộ gõ Hán Nôm theo âm Hán Việt nhưng ít phổ biến | bộ gõ phổ biến, nhanh |
| Nghe, nói tiếng Trung hiện đại | không giúp | bắt buộc |
Ba lợi thế của âm Hán Việt
Đúng với văn bản của người Việt
Câu đối, văn bia, thơ chữ Hán của người Việt được đặt ra để đọc bằng âm Hán Việt. Một đôi câu đối đọc bằng âm Hán Việt mới thấy được nhịp và sự đối thanh mà người viết đã tính.
Bằng trắc tính được ngay
Trong âm Hán Việt, thanh ngang và huyền là bằng; sắc, hỏi, ngã, nặng là trắc. Các âm kết thúc bằng p, t, c, ch như 國 quốc, 學 học, 八 bát, 一 nhất đều là trắc, tương ứng với thanh nhập của tiếng Hán cổ. Nhờ vậy người Việt xét niêm luật thơ Đường luật của ông cha mà không cần học thêm hệ thanh nào khác.
Vốn từ sẵn có
Người Việt đã biết hàng nghìn từ Hán Việt. Gặp 教育 trong văn bản, đọc giáo dục là hiểu ngay; gặp 文化 đọc văn hoá cũng thế. Người học qua pinyin phải nhớ jiàoyù rồi mới nối được sang nghĩa. Đây là lợi thế rất lớn mà người Việt có sẵn, không nên bỏ phí.
Bẫy lớn nhất: nghĩa hiện đại khác nghĩa văn cổ
Người học qua tiếng Trung hiện đại hay mang nghĩa ngày nay vào văn cổ. Những chữ dưới đây là ví dụ quen thuộc trong sách dạy văn ngôn:
| Chữ | Âm Hán Việt | Nghĩa thường gặp trong văn cổ | Nghĩa phổ biến trong tiếng Trung hiện đại |
|---|---|---|---|
| 走 | tẩu | chạy | đi bộ |
| 去 | khứ | rời khỏi, bỏ đi | đi tới |
| 湯 | thang | nước nóng | canh |
| 聞 | văn | nghe | ngửi |
| 妻子 | thê tử | vợ và con | vợ |
Điều thú vị là âm Hán Việt nhiều khi giữ nghĩa cổ tốt hơn tiếng Trung hiện đại: tiếng Việt vẫn nói tẩu thoát với nghĩa chạy trốn, văn danh với nghĩa nghe tiếng. Người học bằng âm Hán Việt vì thế ít bị nghĩa hiện đại kéo lệch hơn.
Khi nào thì cần pinyin?
Pinyin cần đến khi bạn dùng tài liệu của Trung Quốc: từ điển lớn, sách chú giải kinh điển, cơ sở dữ liệu văn bản, phần mềm tra cứu. Nhiều công cụ tra theo âm chỉ nhận pinyin. Bộ gõ chữ Hán phổ biến nhất trên máy tính và điện thoại cũng gõ bằng pinyin, nên khi phải chép một đoạn văn cổ vào máy, biết pinyin giúp gõ nhanh hơn nhiều.
Mức cần đạt là đọc và gõ được, không cần phát âm chuẩn hay nghe nói. Nắm các phụ âm đầu, phần vần và cách ghi bốn thanh là đủ. Khi đã có vốn vài trăm chữ bằng âm Hán Việt, học thêm pinyin ở mức này không mất nhiều thời gian, và vốn chữ sẵn có giúp nhớ nhanh hơn.
Một tình huống: đọc câu đối bằng hai cách
Một người đã học tiếng Trung vài năm về quê, được nhờ đọc đôi câu đối trước nhà thờ họ. Người ấy nhận ra gần hết chữ, đọc trôi chảy bằng âm Phổ thông, nhưng cả nhà nghe không hiểu gì, và chính người ấy cũng không thấy được vế trên đối với vế dưới ra sao. Đọc lại bằng âm Hán Việt, các cụ trong họ gật gù ngay vì nhiều cụm là những từ quen trong tiếng Việt, và nhịp bằng trắc của hai vế hiện ra rõ ràng.
Chuyện không có gì lạ. Câu đối ấy được người Việt soạn để người Việt đọc, theo âm và luật của người Việt. Đọc bằng âm Phổ thông thì vẫn là đọc chữ Hán, nhưng đã đặt văn bản vào một hệ âm mà người soạn không dùng. Phần hiểu nghĩa có thể không mất, nhưng phần nhạc và phần đối, thứ làm nên giá trị của câu đối, thì mất gần hết.
Những hiểu lầm hay gặp
Mấy ý dưới đây được nhắc khá nhiều nhưng không đúng, hoặc chỉ đúng một phần:
- Âm Hán Việt là cách đọc sai của người Việt: không đúng, đây là một hệ thống đọc chữ Hán có quy luật riêng, hình thành qua nhiều thế kỷ, cũng như cách đọc chữ Hán ở Nhật Bản hay Triều Tiên.
- Biết tiếng Trung thì tự khắc đọc được văn cổ: không đúng, văn ngôn có ngữ pháp và nghĩa từ khác tiếng Trung hiện đại; người Trung Quốc cũng phải học văn ngôn ở trường.
- Học âm Hán Việt thì không cần biết gì về tiếng Trung: đúng ở giai đoạn đầu, nhưng về lâu dài, biết pinyin ở mức tra cứu mở ra rất nhiều tài liệu.
- Âm Hán Việt nhiều chữ đồng âm nên khó học: tiếng Trung hiện đại cũng nhiều chữ đồng âm; ở cả hai hệ, chữ viết và văn cảnh mới là thứ phân biệt nghĩa.
Lộ trình gợi ý cho người mới
Với người muốn đọc văn cổ Việt Nam và chưa học tiếng Trung, có thể đi theo thứ tự sau:
- Học chữ khải, nét, thứ tự viết và bộ thủ, gọi tên mọi thứ bằng âm Hán Việt.
- Tích luỹ vốn chữ qua văn bản ngắn của người Việt có phiên âm, như câu đối, bài thơ chữ Hán quen thuộc.
- Học hư từ và ngữ pháp văn ngôn cơ bản, vẫn bằng âm Hán Việt.
- Khi đã có vài trăm chữ, học pinyin ở mức đọc và gõ để dùng công cụ tra cứu.
- Mỗi lần dùng tài liệu tiếng Trung, đối chiếu nghĩa với từ điển Hán Việt để tránh mang nghĩa hiện đại vào văn cổ.
Người đã học tiếng Trung thì đi ngược lại: giữ pinyin làm công cụ, nhưng tập đọc to văn bản bằng âm Hán Việt, nhất là thơ và câu đối, cho tới khi âm Hán Việt thành phản xạ.
Câu hỏi thường gặp
Người Việt xưa đọc chữ Hán bằng âm gì?
Bằng âm Hán Việt. Các nhà Nho Việt đọc sách, ngâm thơ, làm câu đối và văn tế bằng âm này, nên văn bản chữ Hán của người Việt cần được đọc bằng âm Hán Việt mới đúng nhịp và đúng luật bằng trắc.
Đã học tiếng Trung thì có đọc được văn cổ Việt Nam không?
Có lợi thế vì đã biết nhiều chữ, nhưng vẫn cần học thêm văn ngôn và âm Hán Việt. Cần đặc biệt cảnh giác với những chữ mà nghĩa hiện đại khác nghĩa trong văn cổ, như 走 là chạy chứ không phải đi bộ.
Có cần học pinyin nếu chỉ đọc văn cổ?
Nên biết ở mức đọc và gõ để dùng từ điển, tài liệu và bộ gõ của Trung Quốc. Không cần học phát âm chuẩn hay nghe nói. Có thể học sau khi đã có vốn vài trăm chữ.
Có gõ chữ Hán bằng âm Hán Việt được không?
Có một số bộ gõ Hán Nôm cho phép gõ theo âm Hán Việt, nhưng ít phổ biến hơn bộ gõ pinyin. Nhiều người đọc văn cổ dùng cả hai: âm Hán Việt khi gõ chữ Nôm hoặc chữ hiếm, pinyin khi cần gõ nhanh.
Bằng trắc trong âm Hán Việt được tính thế nào?
Thanh ngang và huyền là bằng; sắc, hỏi, ngã, nặng là trắc. Các âm kết thúc bằng p, t, c, ch như quốc, học, bát, nhất cũng là trắc. Đây là cơ sở để xét niêm luật thơ và câu đối của người Việt.