Các bản phiên Truyện Kiều vênh nhau vì chữ Nôm không ghi âm tuyệt đối: một chữ có thể đọc vài âm gần nhau, các bản khắc in và chép tay lại dùng chữ khác nhau ở cùng một câu, và người phiên phải chọn. Khác biệt là chuyện bình thường của văn bản Nôm.
Nhiều bạn đọc yêu Truyện Kiều từng bất ngờ khi thấy câu thơ mình thuộc từ nhỏ lại được in khác đi một chữ trong một cuốn sách khác. Phản ứng thường là nghĩ một bên in sai. Thật ra, phần lớn những chỗ khác nhau ấy có lý do văn bản học rõ ràng, và hiểu được lý do sẽ giúp bạn đọc mọi văn bản Nôm tỉnh táo hơn: không tin tuyệt đối vào một bản, cũng không hoài nghi tất cả.
Năm nguồn gốc của khác biệt giữa các bản phiên
Khi hai bản phiên khác nhau ở một chữ, nguyên nhân gần như luôn thuộc một trong năm nhóm sau. Nhận ra đúng nhóm là bước đầu để tự đánh giá.
| Nguồn gốc | Chuyện gì xảy ra | Dấu hiệu nhận ra |
|---|---|---|
| Chữ đọc được nhiều âm | Cùng một chữ Nôm, người phiên chọn âm khác nhau | Hai âm gần nhau, nghĩa đều thông |
| Dị bản | Các bản Nôm gốc dùng chữ khác nhau ở cùng câu | Âm hai bản phiên khác hẳn, nghĩa khác |
| Kiêng húy | Người khắc in đổi chữ hoặc bớt nét để tránh tên vua, tên người phải kiêng | Chữ có nét thiếu hoặc bị thay bằng chữ đồng nghĩa |
| Lỗi khắc, lỗi chép | Thợ khắc hoặc người chép nhầm một nét, ra chữ khác | Chữ gần giống về hình, nghĩa không thông |
| Cảm thụ của người phiên | Người phiên chọn chữ theo cách hiểu văn chương riêng | Có chú thích giải thích lựa chọn, hoặc không |
Trên thực tế, một chỗ khác biệt có khi là tổng hợp của hai ba nguồn. Một chữ khắc thiếu nét có thể được đọc thành hai chữ khác nhau, mỗi chữ lại đọc được hai âm. Vì vậy các nhà văn bản học không xét từng chữ rời mà xét cả hệ thống bản.
Khi một chữ đọc được nhiều âm
Đây là nguồn khác biệt phổ biến nhất và cũng nhẹ nhàng nhất, vì thường chỉ lệch thanh hoặc lệch vần một chút.
Chữ mượn âm vốn đã gần đúng
Chữ Hán mượn âm chỉ ghi âm gần đúng, nên một chữ có thể ứng với vài tiếng Việt. 渚 có thể đọc chưa, chửa hay chả; 拯 có thể đọc chẳng hay chăng; 浪 có thể đọc rằng hay ràng. Trong nhiều câu, ngữ cảnh chọn hộ bạn. Nhưng có câu cả hai âm đều thông, và lúc đó lựa chọn của người phiên quyết định câu thơ bạn đọc được.
Chữ tự tạo cũng không ghi thanh
Như đã biết, phần gợi âm của chữ Nôm tự tạo không ghi thanh điệu chính xác. Hai tiếng chỉ khác thanh có thể dùng chung một chữ. Trong thơ lục bát, luật bằng trắc giúp loại bớt khả năng, nhưng ở vị trí tự do về thanh, người phiên vẫn phải chọn.
Dấu thanh trong bản quốc ngữ là một lựa chọn
Hệ quả quan trọng: mọi dấu thanh trong bản quốc ngữ đều là lựa chọn của người phiên, không phải thứ có sẵn trong nguyên tác. Biết điều này, bạn sẽ hiểu vì sao các nhà nghiên cứu tranh luận cả về một dấu hỏi hay dấu ngã.
Dị bản: vì sao Truyện Kiều có nhiều bản Nôm?
Truyện Kiều được yêu thích rộng rãi ngay từ khi ra đời, được chép tay và khắc in nhiều lần ở nhiều nơi. Không có bản thảo gốc của tác giả còn lại đến nay; những gì ta có là các bản chép và bản in về sau. Giới nghiên cứu thường nhắc tới việc phân biệt các bản thuộc dòng kinh bản, gắn với kinh đô Huế, và các bản phường, khắc in ở phố phường Hà Nội để bán rộng rãi. Các bản in sớm hay được dẫn có bản Liễu Văn Đường và bản Duy Minh Thị, bên cạnh nhiều bản chép tay.
Mỗi lần chép, người chép có thể sửa một chữ cho hợp ý mình, hợp giọng vùng mình, hoặc do nhớ sai. Mỗi lần khắc in, thợ khắc có thể nhầm nét. Sau nhiều đời, các bản tách ra thành những nhánh có chữ khác nhau ở một số câu. Công việc của nhà văn bản học là so các bản, dựng lại quan hệ giữa chúng, chọn một bản nền đáng tin và ghi chú các chữ khác ở bản khác, gọi là dị văn.
Kiêng húy và lỗi khắc: hai nguồn ít người để ý
Kiêng húy làm chữ biến dạng. Thời xưa, chữ trùng với tên vua và một số người phải kiêng thường bị viết bớt nét, thêm nét hoặc thay bằng chữ khác. Người phiên không biết lệ kiêng húy của thời in sách sẽ đọc chữ biến dạng thành một chữ khác hẳn.
Kiêng húy lại giúp xác định niên đại. Mặt tích cực: dựa vào chữ nào bị kiêng, nhà nghiên cứu có thể đoán bản in thuộc triều nào, đời vua nào. Đây là một công cụ quen thuộc của văn bản học Hán Nôm.
Lỗi khắc ván để lại chữ gần giống. Ván khắc gỗ in nhiều lần sẽ mòn, nét nhỏ mất đi; thợ khắc vội có thể thiếu một chấm, một gạch. Kết quả là chữ trông gần giống một chữ khác. Gặp chữ đọc ra không thông, nghĩ tới khả năng này trước khi đề xuất cách hiểu mới lạ.
Một bản phiên âm tốt trông như thế nào?
Bản phiên âm đáng tin thường có ba phần đi cùng nhau. Phần đầu là lời dẫn nói rõ bản Nôm nào được chọn làm bản nền, vì sao chọn, và đã đối chiếu với những bản nào. Phần giữa là văn bản quốc ngữ, có khi in song song với chữ Nôm của bản nền để người đọc tự kiểm. Phần cuối là chú thích dị văn: ở mỗi câu có khác biệt, ghi bản nào viết chữ gì, đọc thế nào, và người phiên chọn cách nào.
Bản phiên phổ thông dành cho học sinh hay người đọc rộng rãi thường lược bớt phần chú thích cho gọn, điều đó không sai. Nhưng khi bạn cần trích dẫn trong một bài nghiên cứu, một bài giảng, hay đơn giản là muốn hiểu sâu một câu thơ, hãy tìm đến bản có đủ ba phần. Thiếu lời dẫn và chú thích, bạn không biết được câu mình đang đọc là kết quả của bao nhiêu lần chọn lựa, và chọn theo lý lẽ nào.
Tự so hai bản phiên khi gặp câu vênh
Nếu bạn đọc chữ Nôm được ở mức cơ bản, có thể tự kiểm một chỗ khác biệt theo các bước sau.
- Tìm ảnh chụp hoặc bản in chữ Nôm của câu đó, càng nhiều bản Nôm càng tốt.
- Xem các bản Nôm có cùng mặt chữ không. Nếu khác chữ, đó là dị bản; nếu cùng chữ, đó là khác cách đọc.
- Với cùng chữ, liệt kê các âm có thể đọc, kiểm từng âm bằng nghĩa, vần, luật bằng trắc.
- Với khác chữ, xem chữ nào có dấu hiệu kiêng húy hoặc lỗi khắc.
- Đọc chú thích của các bản phiên, xem người phiên đã nêu lý do chưa.
- Ghi lại kết luận của bạn kèm mức độ chắc chắn, đừng viết như thể đã khép lại tranh luận.
Thái độ nên có khi đọc bản phiên
Hiểu nguồn gốc khác biệt không có nghĩa là bản nào cũng đáng ngờ như nhau.
- Ưu tiên bản phiên có chú thích dị văn và nói rõ bản nền.
- Khi trích dẫn câu thơ trong bài viết, ghi rõ theo bản nào.
- Không gọi một cách đọc là sai chỉ vì khác với câu mình thuộc từ nhỏ.
- Không đề xuất cách đọc mới chỉ dựa vào một chữ trong một bản; cần đối chiếu cả hệ thống bản.
- Thấy hai bản khác nhau, coi đó là cơ hội học chữ Nôm, không phải chuyện phải phân xử ngay.
Các tranh luận về chữ trong Truyện Kiều kéo dài nhiều thập kỷ chính vì nó không phải chuyện dễ phân xử. Người đọc phổ thông không cần giải quyết chúng, chỉ cần hiểu vì sao chúng tồn tại.
Câu hỏi thường gặp
Có bản Truyện Kiều nào là bản gốc của Nguyễn Du không?
Hiện không còn bản thảo gốc của tác giả. Các bản ta có là bản chép tay và bản khắc in về sau, nên các nhà văn bản học phải so nhiều bản để dựng lại văn bản đáng tin nhất.
Dị bản là gì?
Dị bản là các bản khác nhau của cùng một tác phẩm, do chép tay, khắc in hoặc sửa chữa qua nhiều đời. Chỗ chữ khác nhau giữa các bản gọi là dị văn.
Kinh bản và phường bản Truyện Kiều khác nhau thế nào?
Giới nghiên cứu thường phân biệt dòng bản gắn với kinh đô Huế và các bản phường khắc in ở Hà Nội để bán rộng rãi. Hai dòng có một số khác biệt về chữ ở nhiều câu.
Kiêng húy ảnh hưởng tới việc đọc chữ Nôm thế nào?
Chữ phải kiêng thường bị bớt nét, thêm nét hoặc thay chữ khác. Người phiên không biết lệ kiêng húy có thể đọc nhầm thành chữ khác, nhưng nhà nghiên cứu cũng dùng nó để xác định niên đại bản in.
Nên đọc Truyện Kiều theo bản phiên nào?
Nên chọn bản phiên có chú thích dị văn, nói rõ dựa trên bản Nôm nào. Khi trích dẫn, ghi rõ bản đã dùng để người đọc biết câu thơ theo nguồn nào.